Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Sự phát triển của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam

Sự phát triển của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam

Các dịch vụ thanh toán Tổ chức cung cấp tại Việt Nam bao gồm:

- Ngân hàng Trung ương (NHNN)

Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch vụ thanh toán
Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý hoạt động thanh toán
Một số điểm nổi bật của hoạt động thanh toán trong Khối thịnh vượng chung của Úc
Một số điểm nổi bật của hoạt động thanh toán trong Liên bang Canada
- Các ngân hàng được thành lập và hoạt động theo pháp luật của tổ chức tín dụng, bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.

- Quỹ tín dụng nhân dân trung ương.

- Các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước như dịch vụ thanh toán.

- Các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được cấp phép bởi Ngân hàng Nhà nước như dịch vụ thanh toán.

Trong thực tế khi thực hiện hoạt động thanh toán chỉ có hai cấp: Ngân hàng Nhà nước có một tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán cả việc quản lý nhà nước về hoạt động thanh toán. Hai ngân hàng là các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng hoặc các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được NHNN cho phép thực hiện các khoản thanh toán, ngân hàng và các tổ chức hoạt động theo quy định của pháp luật dưới sự chỉ đạo và quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Kể từ khi pháp lệnh về ngân hàng nhà nước và pháp lệnh ngân hàng, tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán qua rất nhiều thử nghiệm cho đến nay có thể khẳng định phát triển nhanh chóng, đặc biệt là trong những năm của nước ta chuẩn bị gia nhập WTO và sau khi gia nhập WTO để phát triển có thể trình bày về số lượng và chất lượng như sau:

Xem thêm: Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
a) Xây dựng định lượng

Có thể thực hiện pháp lệnh 5/1990, Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành xem xét, tổ chức, xem xét các điều kiện và đánh giá kế hoạch, điều lệ các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tự nguyện xin được phép hoạt động cấp phép và quản lý hoạt động.

Đến cuối tháng 12/1995, hệ thống ngân hàng của Việt Nam bao gồm: [46, 285]

- Ngân hàng Trung ương (NHNN) có trụ sở trung ương tại Hà Nội và 53 chi nhánh tại các tỉnh.

- Ngân hàng thương mại và công ty tài chính có:

+ 4 ngân hàng quốc doanh (NHTM NN);

+ Ngân hàng thương mại 50 cổ phần với hàng trăm chi nhánh trên toàn quốc (31Ngan các ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và 15 cổ phần nông thôn);

+ 2 cổ phiếu công ty tài chính;

Ngân hàng liên doanh + 4;

+ 19 chi nhánh ngân hàng nước ngoài

- Các hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và các quỹ tín dụng khu vực 3 cơ sở, các quỹ tín dụng, một trong những trung tâm.

+ 576 quỹ tín dụng và quỹ tín dụng nhân dân cơ sở khu vực 3, 1 quỹ tín dụng Trung ương.

+ 64 hợp tác xã tín dụng.

Ngoài ra, có 67 văn phòng đại diện của các ngân hàng và công ty tài chính của 21 quốc gia đang hoạt động tại nước ta.

Sau một thời gian hoạt động của Ngân hàng phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của các nước xã hội chủ nghĩa theo định hướng với tác động của hội nhập kinh tế và danh mục đầu tư xu thế toàn cầu hóa của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng cũng có nhiều thay đổi theo xu hướng: một số tổ chức tín dụng trong cạnh tranh không đứng vững sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực trong những năm 1997 - 1998 và những khó khăn tín dụng tại các nước như Việt Nam Hoa Ngân hàng hoặc sáp nhập vào các ngân hàng thương mại lớn như các ngân hàng châu Á Thái Bình Dương sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, ... và cũng khởi động chung hơn ngân hàng cổ không phải là ngân hàng cổ phần tại ít nhất có vốn đầu tư nước ngoài khi các ngân hàng quốc tế, một số liên doanh hợp nhất ngân hàng thương mại trở nên đủ lớn để làm việc. Một số ngân hàng CP chuyển từ nông thôn đến thành thị là NHTMCP NHTMCP An Bình, ... đã làm phong phú thêm danh sách các biểu mẫu và sơ đồ của hệ thống ngân hàng và
các ngân hàng ở nước ta.

By 06 Tháng sáu 2011 hệ thống ngân hàng và tín dụng ở nước ta bao gồm: [47]

- Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng) với 63 chi nhánh và 03 đơn vị của Ngân hàng tham gia thanh toán.

- Ngân hàng thương mại 05 nước (trong đó có 2 được cổ phần hóa ngân hàng).

- 01 Ngân hàng Phát triển.

- 01 Ngân hàng Chính sách xã hội.

- 05 ngân hàng liên doanh với nước ngoài.

- 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

- 37 Ngân hàng TNHH cổ phần (bao gồm cả mới thành lập, sáp nhập, ...)

- 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (của 30 quốc gia trên thế giới).

- 09 công ty tài chính.

- 12 công ty cho thuê tài chính.

- Quỹ tín dụng nhân dân trung ương 01 bao gồm 24 chi nhánh khu vực.

- Cơ sở quỹ tín dụng 996 nhân dân.

Ngoài ra, có 51 văn phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam như là một cầu nối cho các hoạt động đầu tư, dịch vụ tài chính, tiền tệ của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Nam.

Xu hướng thành lập trong những năm qua ngân hàng mới 2006 - 2010: Dự báo trong những năm tới, các ngân hàng vẫn tiếp tục hoạt động trong một tích cực hơn, nhưng sự cạnh tranh và hợp tác trong hoạt động ngân hàng - tiền tệ cũng phát triển mạnh mẽ. Nhiều ngân hàng cổ phần, ngân hàng 100% vốn và các chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài nước ngoài thành lập mới, mở rộng mạng lưới, quy mô và chất lượng nguồn nhân lực tiếp tục được nâng lên một bước mới.

b) Phát triển của cổ phiếu ngân hàng thương mại chất lượng

Trong những năm gần đây (2008 - 2009) với ít nhất 15 thành lập mới ngân hàng CP vận hành tổng cộng 30 bộ hồ sơ đã nộp cho ngân hàng trung ương.

Vốn mà các ngân hàng CP Liên hệ với Việt Nam có vốn điều lệ đồng 3.300 tỷ đồng với cổ đông sáng lập của Công ty TNHH Him Lam, Công ty Southern Air Transport, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, thủ đô của các ngân hàng thương mại FPT CP 1.000 tỷ đồng điều lệ với các cổ đông sáng lập của tái bảo hiểm quốc gia Công ty Cổ phần đầu tư và công nghệ phát triển Tổng công ty FPT, VMS MobiFone, ... NHTM CP Dầu khí vốn điều lệ 5.000 tỷ đồng với cổ đông sáng lập Tập đoàn Dầu khí, Tổng công ty Việt Nam Airlines, các ngân hàng CP Quốc Tế - VIB, và các ngân hàng CP Bảo Việt Nam có vốn điều lệ vốn 1.500 tỷ đồng với cổ đông sáng lập là Bảo Việt Nam góp 40%, Vinamilk, Sea Bank. Năng lượng NHTM do các cổ đông sáng lập của Công ty Cổ phần Lilama Xây dựng Sông Đà, than và khoáng sản nhóm. Châu Á cổ phiếu các ngân hàng thương mại của Vietcombank và một số doanh nghiệp thành lập khác. TMCP Tin chứng khoán Đông Dương của các ngân hàng Quân đội CP và một số doanh nghiệp quốc phòng vào
lên. Cổ phần Bảo Tín của Habubank và một số doanh nghiệp thành lập khác.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Stars do một số doanh nghiệp cũng góp vốn thành lập. Đặc biệt với 03 chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong hoạt động, đó là Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc, Bank of Australia và Comommwealth Taipei Fubon Bank của Đài Loan và khoảng 03 ngân hàng 100% vốn nước ngoài chính thức ra mắt trên thị trường tài chính thị trường - tiền tệ của Việt Nam.

Ngân hàng Công thương Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những cổ phiếu IPO hoàn thành bước đầu tiên của việc cổ phần hóa ngân hàng trong năm 2008. Các quy định đối với chứng khoán vốn vay sẽ có cơ chế kiểm soát mỗi. Nhiều sản phẩm mới và dịch vụ ngân hàng tiện ích tiếp tục được các ngân hàng thương mại để cạnh tranh thị trường.

Các ngân hàng thương mại cổ tiếp tục được coi là Blue Chips hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Một số ngân hàng nước ngoài vẫn tiếp tục mua cổ phần trở thành đối tác chiến lược của một số ngân hàng cổ phần tại Việt Nam. Nguồn nhân lực cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ - ngân hàng một nơi năng động hơn. Hoạt động ngân hàng thương mại cạnh tranh mạnh mẽ hơn đó là tốt cho nền kinh tế tăng trưởng và cung cấp nhiều cơ hội cho sự lựa chọn của khách hàng, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề cho quản lý rủi ro ở cả hai góc của quản lý nhà nước và quản trị của từng ngân hàng.

Sự phát triển của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét