Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

Thuyết minh về chiếc áo dài việt nam

Thuyết minh về chiếc áo dài việt nam

Cũng không ngạc nhiên khi một người Việt trả lời rằng tà áo Dài là một trong những hình tượng tiêu biểu ở đất nước này. Thật khó mà dịch từ "áo Dài" sang bất cứ ngôn ngữ nào vì không ở đâu có một tà áo Dài như ở Việt Nam. Áo Dài, trang phục truyền thống của phụ nữ Việt, ôm sát cơ thể, có cổ cao và dài khoảng ngang gối. Nó được xẻ ra ở hông. Áo Dài vừa quyến rũ lại vừa gợi cảm, vừa kín đáo nhưng vẫn biểu lộ đường nét của một người thiếu nữ. Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, những vùng địa lý khác nhau, trang phục áo dài đều có những nét đặc sắc riêng. Vào khoảng từ năm 1618 đến năm 1623, một vị giáo sư người Italia có tên Cristoforo Borri, sống ở vùng Quảng Nam đã nhận xét trong một cuốn sách của ông rằng: “Người Việt Nam xưa nay thường có tính kín đáo. Tuy là một nước nhiệt đới, nhưng người Việt ăn mặc rất kín đáo, có thể là kín đáo nhất so với các dân tộc khác trong vùng”. Có lẽ người Việt xưa đã phải dành nhiều thời gian để nghiên cứu, tìm cách phối hợp những nguyên tắc thẩm mỹ với quy luật kín đáo cố hữu của dân tộc vào việc may mặc. Chẳng hạn, do đặc thù về nhân chủng học, người Việt có cái cổ thường không cao, người xưa đã biết may cổ áo thấp xuống và ôm sát cổ, trong khi tóc được vấn cao lên, để lộ gáy... Và vì thế, cái cổ của một phụ nữ Việt có nhan sắc trung bình vẫn trở nên thanh tú và cao sang hơn. Phải chăng đó là tiền đề cho phần cổ của chiếc áo dài? Áo dài của người Việt vẫn có tiếng là gợi cảm. Người Trung Quốc gọi loại áo này là “bì bào”, có nghĩa là áo mặc sát vào da. Đến nay, vẫn chưa có ai khẳng định được chiếc áo dài Việt xuất hiện từ bao giờ và như thế nào? Tuy nhiên, chuyện được biết nhiều nhất là việc chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong, khi xưng vương (năm 1744) đã bắt quan, dân phải mặc lễ phục lấy mẫu từ “Tam tài đồ hội” của nhà Minh, Trung Quốc. Vì thế mà có giả thuyết cho rằng, áo dài Việt Nam xuất xứ từ phương Bắc. Tuy nhiên, áo dài hay “bì bào” không phải là lễ phục. áo dài chỉ là một loại thường phục trang trọng có thể mặc để tiếp khách hay đi chơi. Loại “bì bào” độc nhất ở Trung Quốc thường được gọi là “Sường xám”, có nghĩa là áo dài, chỉ xuất hiện vào những năm của thập niên 1930 tại Trùng Khánh và Thượng Hải. Vào năm 1776, sau khi chúa Trịnh ở Đàng Ngoài chiếm được kinh đô Phú Xuân của xứ Đàng Trong, quan Hiệp Chấn Thủ Lê Quý Đôn đã ra lệnh cho dân ở đây phải ăn mặc theo lề lối của Đàng Ngoài. Theo lệnh này, về thường phục thì: “Từ nay trở đi, đàn ông và đàn bà chỉ được mặc loại áo ngắn tay có cổ đứng...”. Tức là tay áo chỉ dài đến cổ tay, thay vì dài gấp đôi chiều dài của cánh tay như trong áo lễ. Trong cuốn sách của giáo sỹ Borri (như đã nói ở trên) có tên: “Tường thuật về sứ mệnh mới của các linh mục Dòng Tên ở Nam Kỳ - năm 1631” đã miêu tả cách ăn mặc của người Việt Nam đầu thế kỷ 17 như sau:“Người ta mặc năm, sáu cái áo dài, áo nọ phủ lên kia, mỗi cái một màu. Cái thứ nhất dài đến mắt cá chân, những cái áo khác ở ngoài ngắn dần...”. Đấy là vị giáo sỹ đã nói đến chiếc áo mớ ba, mớ bảy của phụ nữ Việt còn thấy ở các làng Quan Họ ở Bắc Ninh hay còn lác đác ở Huế. “Đàn ông cũng mặc năm, sáu lớp áo dài lụa... Phần dưới thắt lưng của mấy lớp áo ngoài được cắt thành những dải dài. Khi đi lại, các dải này quyện vào nhau trông rất đẹp mắt... khi có gió thổi, các dải áo bay tung lên như cánh chim công thật ngoạn mục...”. Thực ra, mấy lớp áo bên ngoài bị cắt thành các dải dài bên dưới thắt lưng mà giáo sỹ Borri nhắc đến chỉ là cái xiêm cánh sen, hoặc có nơi gọi là quầy bơi chèo, mà người xưa mặc trước ngực hay dưới thắt lưng bên ngoài áo dài. Xiêm có ba hoặc bốn lớp dải lụa, gọi là cánh sen may chồng lên nhau. Bức tượng Bà Ngọc Nữ được tạc từ thế kỷ XVII ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh là minh chứng rõ nhất cho cả áo dài, các dải cánh sen, lẫn cách vấn khăn mà giáo sỹ Borri đã miêu tả. Cái áo dài đó cũng như cách vấn khăn không có nhiều khác biệt so với bây giờ.

Xem thêm : Thuyết Minh Về Áo Dài Việt Nam

Cho đến đầu thế kỷ XX, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân hay năm tà. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước, áo may nối phía dưới khuỷu tay. Sở dĩ áo phải nối thân và tay như thế là vì các loại vải tốt như lụa, sa, gấm, đoạn... ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất là 40 cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chiết eo. Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80 cm ở gấu, cổ áo chỉ cao khoảng 2-3 cm.
Trong thập niên từ 1930 đến 1940, cách may áo dài vẫn không thay đổi nhiều, nhưng phụ nữ thành thị bắt đầu dùng các loại vải màu tươi, sáng hơn, được nhập khẩu từ châu Âu. Thời kỳ này, gấu áo dài thường được may trên mắt cá chân khoảng 20cm. Từ đây và tiếp tục cho đến gần cuối thế kỷ XX thiếu nữ khắp nơi mặc quần trắng với áo dài. Quần đen dành cho những phụ nữ đã lập gia đình. Một vài nhà tạo mẫu áo dài đã bắt đầu xuất hiện, nhưng họ mới chỉ bỏ đi phần nối giữa sống áo vì vải của phương Tây dệt có khổ rộng hơn vải ta, áo vẫn may nối. Thời đó, Hà Nội đã có các nhà may nổi tiếng như Cát Tường ở phố Hàng Da và một số ở khu vực Hàng Trống, Hàng Bông. Năm 1939, nhà tạo mẫu Cát Tường đã tung ra một kiểu áo mới có tên gọi là Le Mur mang mẫu dáng rất Âu hoá, áo Le Mur vẫn giữ nguyên phần áo dài may, không nối sống bên dưới, nhưng cổ áo khoét hình trái tim; có khi áo được gắn thêm cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ; vai áo may bồng, tay nối ở vai; khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải. Vậy là áo Le Mur được xem là táo bạo và chỉ có giới nghệ sỹ hay ăn chơi “thời thượng” lúc đó mới dám mặc. Nhưng chỉ đến khoảng năm 1943 thì loại áo này đã bị lãng quên.
Đến khoảng những năm 1950, sườn áo dài bắt đầu được may chiết eo. Các nhà may lúc đó đã cắt áo lượn theo thân người. Thân áo sau rộng hơn thân trước, đặc biệt là phần mông để áo ôm theo thân dáng mà không cần chiết eo; vạt áo cắt hẹp hơn, cổ áo cao lên trong khi gấu được hạ thấp xuống.

Vào những năm 1960, áo dài được thay đổi nhiều nhất vì cái nịt ngực được sử dụng ngày càng phổ biến hơn, nên áo dài phải được may chiết eo, thậm chí người phụ nữ mặc rất chật để tôn ngực. Eo áo cắt cao lên để hở cạp quần; gấu áo cắt ngang thẳng và dài gần đến mắt cá chân. Năm 1960, vì muốn thấy có cảm giác cổ phụ nữ dài thêm, bà Trần Lệ Xuân đặt ra loại áo dài cổ thuyền, được gọi là áo bà Nhu và sau này còn có người may áo dài với cổ khoét tròn.
Vào cuối những năm 1960, đầu những năm 1970, để thích ứng với thời trang váy ngắn, quần loe của thanh niên theo lối hippy, áo dài mini đã xuất hiện và ngay lập tức trở thành mốt thời thượng. Vạt áo may hẹp và ngắn, có khi đến đầu gối, áo may rộng ra và không chiết eo, nhưng vẫn giữ đường lượn theo thân thể; cổ áo may thấp xuống còn 3 cm; vai áo bắt đầu được cắt lối raglan để ngực và tay áo ôm hơn; quần khi đó được may rất dài, gấu rộng đến 60 cm. Sau thời kỳ này trở về đến năm 1990, áo dài không thay đổi nhiều lắm so với truyền thống, thỉnh thoảng cũng có vài mẫu đổi mới, chẳng hạn như quần và áo đồng màu, nhưng không phổ biến...
Ngày nay, Việt Nam đã có một lực lượng đông đảo các nhà tạo mẫu áo dài, với đủ các loại chất liệu vải, họ vẫn luôn nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo đưa ra những mẫu mốt mới...Chất liệu mới cho áo Dài được kết hợp từ những tấm vải mẫu, thường được trang trí bằng những đường nét thủ công hoặc thêu thùa. Song, cũng chỉ dừng lại ở việc thay đổi chất vải và hoa văn trên áo dài còn về kiểu dáng vẫn phải giữ theo “công thức” cũ, nghĩa là không khác gì nhiều với cái áo dài của pho tượng Ngọc Nữ thế kỷ XVII. Trong cuộc sống hằng ngày của phụ nữ Việt… Không giống như kimono của Nhật Bản, Hanbok của Hàn Quốc hay Sari, trang phục truyền thống của phụ nữ Ấn Độ, người mặc không cần tốn nhiều thời gian, lại đơn giản, gọn gàng, duyên dáng mà thanh lịch, có lẽ chính vì vậy mà áo dài - trang phục truyền thống đã “len lỏi” vào cuộc sống hằng ngày của phụ nữ Việt một cách tự nhiên và dễ dàng. Không gì đẹp mắt và thanh bình cho bằng khi mỗi sáng từng nhóm nữ sinh trong bộ đồng phục áo dài trắng thướt tha đổ về các cổng trường. Trên chững chuyến bay đường dài với những sự thay đổi thời tiết và khí hậu đột ngột dễ gây mỏi mệt và bực bội đối với những hành khách trên không, hình ảnh những thiếu nữ Việt xinh tươi đằm thắm trong tà áo dài chính là “linh hồn” làm dịu đi những nỗi mệt nhọc cho hành khách của chuyến bay. Không chỉ có thế, ngày nay tại các công sở, cũng dễ dàng tìm thấy hình ảnh những phụ nữ gọn nhẹ trong tà áo dài nhưng vẫn hoạt bát nhanh nhẹn xử lý công việc thật ngăn nắp, chỉnh chu. Đúng như lời nhận xét của một chuyên gia thời trang Đông Nam Á: “Áo dài Việt tạo ra sự thoải mái cho người phụ nữ. Trong khi áo dài Trung Quốc có một số hạn chế, áo dài Việt cho phép người mặc có thể hoạt động tự do và nó cũng có sức cuốn hút hơn”.


Và ngày càng vươn xa khắp các nước… Vào khoảng tháng 06.2001, lần đầu tiên áo dài Việt Nam được giới thiệu tại thành phố Tour, Pháp với sự tham dự của khoảng 300 người hâm mộ văn hóa Việt, chiếc áo dài được xem là di sản văn hóa phi vật thể của nước Việt. Một cô gái người Singapore gốc Trung Quốc từng phát biểu: “nhiều người đang có khuynh hướng làm đẹp theo kiểu phương Tây nhưng với tôi và không ít người khác lại muốn kế thừa những nét đẹp Á Đông. Áo dài đưa chúng tôi trở về với những giá trị châu Á”. Không chỉ tại châu Á, trong con mắt người phương Tây, từ lâu chiếc áo dài cũng đã được chú ý, chị Susan, một phụ nữ gốc Anh sống ở Úc từng qua công tác và làm việc ở Việt Nam, đã tìm may và sưu tầm cho mình ba bộ áo dài đẹp để mặc vào những dịp lễ hội khi chị còn ở Việt Nam, khi về nước chị đã kỹ càng gói lại và đem về mặc lại cho những người thân của mình xem khi có dịp. Và như là một hình thức để giới thiệu về đất nước và con người Việt, đài truyền hình KBS của Hàn Quốc cũng đã từng làm một bộ phim dài 30 phút về áo dài Việt để trình chiếu tại nước này. Kín đáo, duyên dáng và gợi cảm là một trong những yếu tố đưa áo dài trở thành niềm kiêu hãnh của người Việt. Không chỉ là cái áo nữa - chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của trang phục phụ nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hoá vật thể truyền thống không thể thiếu cho vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt.

Thuyết minh về chiếc áo dài việt nam

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016

Nguyên tắc của Hải quan thế giới về quản lý rủi ro

Theo WCO thì quản lý rủi ro khó có thể đạt được hiệu quả mong muốn nếu không được ủng hộ và hỗ trợ thống nhất nhận thức từ các cấp quản lý, đặc biệt từ cấp cao nhất là Quốc hội và Chính phủ được thể hiện trong Luật và Nghị định thi hành. Tổng cục trưởng Hải quan và các nhà quản lý cao cấp khác phải thiết lập ra chính sách, mục tiêu và có phương án giao cho các cấp quản lý quyền hoạch định công việc, phân bổ nguồn lực và ra quyết định về quản lý rủi ro, đánh giá rủi ro.

Để nâng cao nhận thức và kiến thức về công tác quản lý rủi ro trong ngành hải quan thì WCO nêu ra các giải pháp trong đó có việc xây dựng các tiêu chí và các bộ chỉ số về dấu hiệu rủi ro được áp dụng trong từng khâu nghiệp vụ quản lý và đánh giá phản hồi kết quả hoạt động hải quan. Các chỉ số ấy phải là các chỉ tiêu thông tin mang giá trị của tiêu chí quản lý rủi ro giúp cho quá trình nhận biết, phân loại mức độ tuân thủ, mức độ rủi ro của doanh nghiệp, để từ đó lựa chọn đối tượng kiểm tra, giám sát hải quan, kiểm tra sau thông quan, thanh tra trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.

>>> Xem thêm :  Phương hướng triển khai quản trị rủi ro trong thủ tục hải quan điện tử

Mặt khác quản lý rủi ro phải được coi là bộ phận không thể tách rời, bao trùm tất cả các quy trình tổ chức nghiệp vụ hải quan; đồng thời phải hỗ trợ các cấp quản lý ra các quyết định nghiệp vụ thông qua các cảnh báo được đưa ra trong quá trình lựa chọn sắp xếp thứ tự ưu tiên và hành vi quản lý để từ đó có các biện pháp xử lý các rủi ro phát sinh một cách phù hợp và hiệu quả.

Tùy vào đặc điểm tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước mà cơ quan Hải quan cần xây dựng một chính sách quản lý rủi ro cho riêng mình, trong đó phải xác định thật rõ những mục tiêu định hướng phát triển chung của cả ngành trong đó có định hướng chính sách quản lý rủi ro rõ ràng. Bởi vậy tại mỗi khâu nghiệp vụ hải quan cần xây dựng tiêu chí QLRR khác nhau tuỳ vào tính chất, mức độ rủi ro của hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh.

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Khái niệm chung về Công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán

Khái niệm và phân loại công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ tren thị trường chứng khoán

ở Việt Nam , theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10 năm 1998 của UBCKNN ,CTCK là công ty cổ phần ,công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam , được Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép thực hiên một số loại hình kinh doanh chứng khoán

Do đặc điểm một CTCK có thể kinh doanh chứng khoán nhất định do đó ,hiện nay , có quan điểm phân chia CTCK như sau

Công ty môi giới cứng khoán : là công ty CK chỉ thựchiện việc trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng

Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán : là CTCK chủ yếu thực hiện nghiệp vụ tự doanh , có nghiã là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh

Công ty trái phiếu : là CTCK chuyên mua bán các loại tráI phiếu

Thị trư­ờng chứng khoán

Công ty chứng khoán không tập trung : là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị trường OTC và họ đóng vai trò các nhà tạo lập thị trường

>>> Mục tiêu và định hướng phát triển Công ty chứng khoán

Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán


CTCK hoạt động theo hai nhóm nguyên tắc đó là nhóm nguyên tắc đạo đúc và nhóm nguyên tắ mang tính tài chính

Nhóm nguyên tắc đạo đức


CTCK phải đảm bảo tính trung thực và công bằng vì lợi ích của khách hàng

Kinh doanh có kỹ năng , tận tuỵ , có tinh thaanf trách nhiệm

Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty

Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng , không được tiết lộ các thông tin về tàI khoản khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước

CTCK khi thực hiện nhiệm vụ tư vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin chokhách hàng và giảI thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu ,đồng thời họ không được khẳng định về lợi mhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn

CTCK không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình

ở nhiều nước ,các CTCK phả đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường hợpCtCK mất khả năng thanh toán

Nghiêm cấm thực hện các gio dịch nội gián , các công ty chứng khoán không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình , gây thiệt hại đến lợi ích khách hàng

Các CTCK không được tiến hành các hoạt động có thể lamf cho khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả , giá trị và bản chất của chứng khoán hoặccác hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng

Nhóm nguyên tắc tài chính


Đảm bảo các yêu cầu về vốn , cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán ,báo cáo theo qui định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước . Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng

Công ty chứng khoán không được dùng tiền khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh , ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phụcvụcho giao dịch khách hàng

Công ty chứng khoán phảI tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình . Công ty chứng khoán không được ding chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản

Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán


Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phụ thuọc vào loại hình nghiệp vụ chứng khoán mà công ty thực hiện cũng như qui mô hoạt động kinh doanh chứng khoán của nó . Tuy nhiên , chúng đều có những đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng được chia thành nhóm 2 khối khác nhau là khối nghiệp vụ và khối phụ trợ

Khối nghiệp vụ ( front office ) là khối thực hiện các giao dịch kinh doanh và dịch vụ chứng khoán . Khối này đem lại thu nhập cho công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu khách hàng và tạo ra sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó . Tương ứng với các nghiệp vụ do khối này phụ trách sẽ có những bộ phòng ban nhất định

Phòng môi giới

Phòng tự doanh

Phòng bảo lãnh phát hành

Phòng quản lý danh mục đầu tư và quĩ đầu tư

Phòng tư vấn tài chính đầu tư

Phòng kỹ quĩ

Tuy nhiên , căn cứ vào quy mô thị trường và sự chú trọng vào các nghiệp vụ mà công ty chứng khoán có thể chuyên sâu từng bộ phận hoặc tổng hợp các nghiệp vụ trong bộ phận

Thị trư­ờng chứng khoán

Khối phụ trợ (back office ) là khối không trực tiếp thực hiên các ngiệp vụ kinh doanh , nhưng nó không thể thiếu được trong vận hành của công ty chứng khoán vì hoạt động của nó mang tính chất ttrợ giúp cho khối nghiệp vụ . Khối này bao gồm các bộ phận sau

Phòng nghiên cứu phát triển

Phòng phân tích và thông tin thị trường

Phòng kế hoạch công ty

Phòng phát triển sản phẩm mới

Phòng công nghẹ tin học

Phòng pháp chế

Phòng kế toán , thanh toán và kiểm soát nội bộ

Phòng ngân quĩ , kí quĩ

Phòng tổng hợp hành chính , nhân sự

Ngoài sự phân biệt rõ ràng hai khối như vậy , do mức độ phát triển của công ty chứng khoán và thị trường chứng khoán mà có thể có thêm các bộ phạn khác như : mạng lưới chi nhánh , văn phòng trong và ngoàI nước , văn phòng đại lý … vv, hoặc các phòng ban liên quan đến các nghiệp vụ khác từ ngân hàng , bảo hiểm (tín dụng chứng khoán , bảo hiểm chứng khoán )

Vai trò , chức năng của công ty chứng khoán


Hoạt động của thị trường chứng khoán trước hết cần những người môi giới trung gian , đó là các công ty chứng khoán – một định chế tài chính trên thị trường chứng khoán , có nghiệp vụ chuyên môn , đội ngũ nhân viên lành nghề và bộ máy tổ chức phù hợp để thực hiện vai trò trung gian môI giới mua- bán chứng khoán , tư vấn đầu tư và một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư lẫn tổ chức phát hành

Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng . Nhờ các công ty chứng khoán nà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản cao , qua đó huy động nguồn vốn từ nơI nhàn rỗi để phân bổ vào nơI sử dụng có hiệu quả

Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán


Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến những người sử dụng vốn ( thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh )

Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch ( thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh)

Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán ( hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền mặt và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán moat cách dễ dàng )

Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường ( thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò tạo lập thị trường )

Vai trò của công ty chứng khoán


Với những đặc điểm trên , công ty chứng khoán có vai trò rất quan trọng đối với những chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán

Đối với tổ chức phát hành . Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các TCPH là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán . Vì vậy , thông qua hoạt động đại lý phát hành , bảo lãnh phát hành , các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế cơ chế huy động phụcvụ các nhà phát hành

Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là nguyên tắc trung gian . Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán . Các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian mua bán cho cả người đầu tư và người phát hành . Và khi thực hiện công việc này , các công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nèn kinh tế qua thị trường chứng khoán

Đối với các nhà đầu tư .Thông qua các hoạt động như môi giới , tư vấn đầu tư , quản lý danh mục đầu tư , công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch , do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư . Đối với hàng hoá thông thường ,

Thị trường chứng khoán mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và bán . Tuy nhiên , đối với thị trường chứng khoán , sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ

rủi ro cao sẽ làm cho các nhà đầu tư tốn kém chi phí , công sức và thời gian tìm kiếm thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua công ty chứng khoán , với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả nhất

Đối với thị trường chứng khoán . Với thị trường chứng khoán , công ty chứng khoán thể hiện 2 vai trò chính

(1) Góp phần tạo lập giá cả , điều tiết trên thị trường . Giá cả chứng khoán là do thị trưòng quyết định . Tuy nhiên , để đưa ra mức giá cuối cùng , người mua và người bán phảI thông qua các công ty chứng khoán vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua –bán . Các công ty chứng khoán là những thành viên của thị trường , do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá . Trên thị trường sơ cấp , các công ty chứng khoán cùng các nhà phát hành đưa giá đầu tiên . Chính vì vậy , giá cả mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán

Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường . Để bảo vệ nhứng khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình , nhiều công ty chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường

(2) Góp phần làm tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính

Thị trường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tàI sản tài chính . Nhưng các công ty chứng khoán mới la người thực hiện tốt vai trò đó vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường . Trên thị trường cấp 1 , do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh , phát hành , chứng khoán hoá , các công ty chứng koán không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho các nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán trên thị trường cấp 2 . Điều này làm giảm rủi ro , tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư . Trên thị trường cấp 2 , do thực hiện các giao dịch mua bán , các công ty chứng khoán giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại . Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của nhứng tàI sản tài chính

Đối với các cơ quan quản lý thị trường . Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó . Các công ty chứng khoán thực hiện đựoc vai trò này vì họ vừa là người bảo lãnh cho các chứng khoán mới , vừa là trung gian mua bán và thực hiện các giao dịch trên thị trường . Một trong những yêu cầu của thị trường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giám sát của cơ quan quản lý thị trường . Việc cung cấp thông tin vừa là qui định của hệ thống luật pháp , vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần minh bạch và công khai trong hoạt động . Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các cổ phiếu , trái phiếu và các tổ chức phát hành , thông tin về các nhà đầu tư vv… Nhờ các thông tin này , các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hoạt động thao túng , lũng đoạn và bóp méo thị trường

Tóm lại , công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán , có vai trò cần thiết và quan trọng với các nhà đầu tư , các nhà phát hành , đối với các cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trường chứng khoán nói chung . Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của các công ty chứng khoán

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016

Các phương thức huy động vốn

Các phương thức huy động vốn


Tiền gửi

Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ tiền, tài sản và thanh toán hộ khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư. Cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại. Ngày nay hầu hết các ngân hàng thương mại đang dẩy mạnh huy động vốn thông qua các chính sách cụ thể, rõ ràng và hiệu quả.

- Đối với tiền gửi thanh toán

Vớ mục đích giao dịch, trên cơ sở phạm vi số dư có trên tài khoản tiền gửi của khách hàng, ngân hàng sẽ thực hiện việc chi trả khi khách hàng có yêu cầu hoặc có sự uỷ quyền. Các khoản thu nhập của khách hàng đều có thể dễ dàng được ngân hàng nhập vào tài khoản. Hiện nay do yêu cầu của cạnh tranh, các ngân hàng đều quan tâm tới việc rút ngắn thời gian giao dịch cho khách hàng cho nên thủ tục mở tại khoản rất đơn giản, gọn nhẹ và thuận tiện. Để thu hút khách hàng một số ngân hàng còn kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với cho vay (hay còn gọi là cho vay thấu chi), một số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức biến tướng của tài khoản tiền gửi thanh toán để nâng lãi suất loại tiền gửi tương ứng này nhằm cạnh tranh với các Tổ chức tín dụng, các ngân hàng thương mại khác.

- Tiền gửi có kỳ hạn của các Doanh nghiệp, Tổ chức xã hội, Tổ chức xã hội nghề nghiệp

Nhiều khoản thu bằng tiền của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội sẽ được chi trả trong một khoảng thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho thanh toán song mức lãi suất thường rất thấp. Để đáp ứng nhu cầu và khuyến khích người gửi tiền, tạo điều kiện khơi tăng nguồn vốn cho mình, các ngân hàng đưa ra các hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Thông thường khoản tiền gửi này không thuận tiện trong thanh toán như tiền gửi thanh toán như ở trên, khi cần tiền khách hàng phải đến ngân hàng để thực hiện rút tiền ra. Tuy nhiên để thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng thường có mức lãi suất ưu đãi tương ứng với độ dài kỳ hạn gửi mà khách hàng gửi tiền vào ngân hàng. Đây là một trong những yếu tố thu hút được nhiều nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp và các tổ chức nói trên.

- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư, các tâng lớp dân cư

Các tầng lớp dân cư đều có các khoản tiền tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm) trong điều kiện có khả năng tiếp cận được với ngân hàng, họ sẽ có thể gửi tiền nhằm mục tiêu an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn vốn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều các khoản tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều có gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt trong nhà thay vì gửi vào ngân hàng, bằng cách mở rộng màng lưới các Chi nhánh, các phòng giao dịch đáp ứng nhu cầu huy động. Đưa ra hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn (ví dụ như mức lãi suất cạnh tranh với các khoảng tiền gửi thời hạn khác nhau, lãi suất giữa tiết kiệm bằng đồng nội tệ và tiết kiệm bằng đồng ngoại tệ, tiết kiệm bằng vàng,...). Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều chương mục tiết kiệm khác nhau cho mỗi kỳ hạn và cho mỗi lần gửi khác nhau. Loại hình tiền gửi này không nhằm mục đích thanh toán tiền hàng và dịch vụ song nó có thể dùng làm tài sản thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép.

- Tiền gửi của các ngân hàng khác

Với mục tiêu là an toàn, thuận tiên và nhanh chóng trong thanh toán cho khách hàng, các ngân hàng thương mại không chỉ duy trì tiền tại ngân hàng của mình mà còn tiến hành gửi tiền tại ngân hàng thương mại khác. Tuy nhiên thì quy mô của nó không lớn, thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.


Nguồn đi vay

Nguồn tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, trong những trườn hợp cần thiết các ngân hàng thương mại vẫn phải tiến hành đi vay thêm. Mặt khác tại nhiều quốc gia trên thế giới, ngân hàng Trung ương thường quy định tỷ lệ giữa bắt buộc với nguồn tiền huy động và vốn chủ sở hữu. Do vậy trong những trường hợp cần thiết, và trong các giai đoạn cụ thể nhiều ngân hàng phải tiến hành vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. Các nguồn mà ngân hàng thương mại có thể vay đó là:

- Vay từ Ngân hàng Nhà nước

Đây là khoản vay nhằm giải quyết công việc cấp bách trong chi trả của các ngân hàng thương mại. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán) các ngân hàng thương mại thường vay Ngân hàng Nhà Nước (NHTW). Hình thức vay chủ yếu là tái cấp vốn hoặc tái chiết khấu thương phiếu. Các thương phiếu được chiết khấu hoặc tái chiết khấu thì trở thành tài sản của họ (của Ngân hàng Nhà Nước). Khi cần tiền họ lại mang các thương phiếu này đến Ngân hàng Nhà Nước để chiết khấu. Nghiệp vụ này làm thương phiếu của ngân hàng thương mại giảm đi và dự trữ (tiền mặt hoặc tiền gửi tại Ngân hàng Nhà Nước) tăng lên, Ngân hàng Nhà Nước điều hành vay mượn một cách chặt chẽ; Ngân hàng thương mại phải đáp ứng các điều kiện đảm bào và kiểm soát nhất định. Thông thường Ngân hàng Nhà Nước chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của Ngân hàng Nhà Nước trong từng thời kỳ. Trong diều kiện chưa có thương phiếu, Ngân hàng Nhà Nước cho ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng.

- Vay từ các Tổ chức tín dụng và Ngân hàng thương mại khác

Đây là nghiệp vụ ngân hàng thương mại này đi vay ngân hàng thương mại khác và vay của các TCTD trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng hoặc thị trường vốn. Các ngân hàng thương mại đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản huy động hoặc cho vay giảm sẽ sẵn sàng cho ngân hàng thương mại khác vay để hưởng lãi suất cao hơn. Ngược lại các ngân hàng thương mại đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn từ các ngân hàng khác để đảm bảo khả năng thanh khoản như, đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách, và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế nguồn từ Ngân hàng Nhà Nước (NHTW). Quá trình vay mượn rất đơn giản. Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc Ngân hàng Nhà Nước). Khoản vay có thể không cần đảm bảo bằng các chứng khoán của Kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và ngân hàng đi vay tăng lên.

Vay trên thị trường vốn

Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng thương mại cũng đi vay bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiều, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn. Rất nhiều ngân hàng thương mại thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không có khả năng đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Do vậy các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường đây là khoản vay không có bảo đảm. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này, họ thường phải thông quan ngân hàng đại lý hoặc thông qua sự bảo lãnh của ngân hàng thương mại lớn. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào tình hình phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng. Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp. Ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị trường để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp. Các vấn đề về chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ... cũng được các ngân hàng quan tâm.

Các nguồn khác

Nguồn uỷ thác

Đây là nghiệp vụ mà thông qua đó ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ uỷ thác như cho vay, đầu tư, uỷ thác cấp phát, giải ngân, thu ngân hộ... Các hoạt động này tạo nên nguồn vốn uỷ thác tại ngân hàng. Ngày nay, cùng với sự phát triển của các mối quan hệ đa phương, rất nhiều các tổ chức kinh tế, xã hội có cùng mục tiêu phát triển như của các ngân hàng, có nguồn tài chính, đã sử dụng màng lưới ngân hàng như là kênh dẫn vốn tới các mục tiêu. Và kết quả là hình thành nguồn uỷ thác, làm tăng nguồn vốn của ngân hàng.

Nguồn trong thanh toán

Các khoản thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền kí quỹ đsể mở L/C,...). Những ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có kết số dư tiền từ của các ngân hàng thành viên để chuyển về thực hiện cho vay.

- Nguồn khác, các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả, Tiền khấu hao tài sản nhưng chưa dùng,...

Các phương thức huy động vốn

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2016

Quản lý chuỗi cung ứng (SCM)

Quản lý chuỗi cung ứng (SCM) là công việc không chỉ dành riêng cho các nhà quản lý về chuỗi cung ứng. Tất cả những bộ phận khác của một tổ chức cũng cần hiểu về SCM bởi họ cũng trực tiếp ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của chuỗi cung ứng. Đây là một số kiến thức cơ bản về quản lý chuỗi cung ứng cũng như giúp bạn thấy rõ hơn vai trò quan trọng của chính bạn trong việc quản lý chuỗi cung ứng thành công.


Hãy tưởng tượng đến một khái niệm - mà nếu bạn hiểu hoàn toàn và áp dụng trong toàn bộ tổ chức - sẽ giúp tăng hiệu quả hoạt động và tài chính, đem lại nhiều lợi thế cạnh tranh và tất nhiên hoạt động kinh doanh được quản lý tốt hơn. Hãy tưởng tượng xa hơn nữa là trong khi mọi người đều đã từng nghe đến khái niệm này, nhưng rất nhiều người lại không hiểu được ý nghĩa của nó, trong khi nhiều người khác lại hiểu nó theo nhiều nghĩa khác nhau hoàn toàn về phạm vi và ứng dụng. Và cũng chẳng cần phải tưởng tượng nữa; khái niệm ấy chính là quản lý chuỗi cung ứng (SCM).


Phần lớn các chuyên gia chắc hẳn sẽ thống nhất về những thành tố cơ bản và thậm chí là định nghĩa về một chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều nhà quản lý lại không hoàn toàn hiểu quản lý chuỗi cung ứng mang đến những lợi ích gì cũng như không đánh giá cao những lợi thế cạnh tranh mà một chuỗi cung ứng được quản lý tốt đem lại. Hơn thế nữa, họ cũng không nắm được tầm quan trọng của chính họ đối với sự thành bại của những sáng kiến về quản lý chuỗi cung ứng trong công ty họ.


Để xây dựng được chuỗi cung ứng hiệu quả, tất cả các thành viên trong tổ chức đều phải thông hiểu và hỗ trợ chứ không chỉ là những người tham gia trực tiếp vào hoạt động của chuỗi cung ứng. Bài báo này giới thiệu khái niệm "quản lý chuỗi cung ứng" theo một cách dễ hiểu đối với cả những ai không trực tiếp tham gia quản lý chuỗi cung ứng.


Một phần của bài báo này, chúng tôi sẽ chọn lọc những quan điểm trái ngược về quản lý chuỗi cung ứng và sẽ nêu rõ một số khái niệm và định nghĩa cơ bản. Điều này sẽ rất hữu ích để có thể nhìn nhận quản lý chuỗi cung ứng trên phương diện rộng và tổng quát chứ không chỉ tập trung vào những hoạt động hay chiến lược cụ thể. Chúng tôi kết thúc bài báo bằng việc nhấn mạnh những điều mà các nhà quản lý cần biết về bốn yếu tố cốt lõi của sự thành công trong quản lý chuỗi cung ứng.

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

Hỏi đáp xây dựng nông thôn mới

Câu hỏi: Các nguồn điện nông thôn được cung cấp từ đâu? Để được công nhận xã nông thôn mới, tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn là bao nhiêu?

Trả lời: Các nguồn cấp điện cho nông thôn được cung cấp từ lưới điện quốc gia, hoặc ngoài lưới điện quốc gia.Để được công nhận là xã nông thôn mới thuộc thành phố Đà Nẵng, tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn là 98% trở lên.

Câu hỏi: Thế nào là hộ nghèo? Để đạt được tiêu chí xã nông thôn mới, tỷ lệ hộ nghèo là bao nhiêu?

Trả lời:Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn nghèo.

Ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015, theo đó:

Chuẩn nghèo cho khu vực nông thôn là 400.000 đồng/người/tháng.

Chuẩn nghèo cho khu vực thành thị là 500.000 đồng/người/tháng.

Đối với thành phố Đà Nẵng, để đạt tiêu chí xã nông thôn mới, tỷ lệ hộ nghèo là 6% trở xuống.

>>> Xem thêm : Khái niệm và sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới

Câu hỏi: Thế nào là hệ thống tổ chức chính trị xã hội ở xã?

Trả lời:Hệ thống tổ chức chính trị xã hội ở xã bao gồm:

a. Tổ chức Đảng: Đảng bộ xã và các chi bộ ấp; các chi bộ ở các ngành thuộc xã và đơn vị đóng trên địa bàn sinh hoạt tại xã.

b. Chính quyền: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, các ban giúp việc cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã và các trưởng ấp.

c. Đoàn thể chính trị xã hội: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh xã và các chi hội ở ấp, liên ấp (không bao gồm các tổ chức xã hội nghề nghiệp).

>>> Xem thêm : Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Câu hỏi: Tiêu chí Quốc gia về xây dựng xã nông thôn mới quy định thế nào về hệ thống tổ chức chính trị xã hội trong xã?

Trả lời: Tiêu chí Quốc gia về xây dựng xã nông thôn mới quy định về hệ thống tổ chức chính trị xã hội trong xã là:

a. Cán bộ xã phải đạt chuẩn.
Cán bộ xã đạt chuẩn phải đảm bảo tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức cấp xã quyđịnh tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quyđịnh tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và phải hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao quyđịnh tại Quyết định 04 nói trên của Bộ Nội vụ.

b. Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quyđịnh, tức là tất cả các ấp đều có tổ chức “chân rết” của các cơ quan đoàn thể xã theo quyđịnh như: các chi bộ đảng, các chi hội, trưởng ấp...

Không có tình trạng để “trắng” các tổ chức nầy ở các ấp.

c. Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”.

d. Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên theo quyđịnh của từng tổ chức.

Câu hỏi: Tiêu chí Quốc gia về xây dựng xã nông thôn mới quy định thế nào về an ninh, trật tự xã hội tại xã?

Trả lời: Tiêu chí Quốc gia về xây dựng xã nông thôn mới quy định về an ninh, trật tự xã hội tại xã với 3 chỉ tiêu cụ thể là:

Chỉ tiêu 1

a. Hàng năm, Đảng ủy có nghị quyết, Ủy ban nhân dân có kế hoạch về công tác đảm bảo an ninh trật tự.

b. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, biện pháp bảo vệ an ninh, trật tự và “Ngày hội toàn dân bảo vệ ANTQ”

c. Hàng năm phân loại xã về “Phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ” đạt từ loại khá trở lên.

d. Lực lượng Công an xã được xây dựng, củng cố ngày càng trong sạch, vững mạnh theo quyđịnh Pháp lệnh Công an xã và hướng dẫn của ngành Công an. Hàng năm phân loại thi đua tập thể Công an xã đạt danh hiệu “đơn vị tiên tiến” trở lên; không có cá nhân công an xã bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

Chỉ tiêu 2

a. Không để xảy ra hoạt động phá hoại các mục tiêu, công trình kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng. Không để xảy ra các hoạt động chống đối Đảng, chống chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; không để xảy ra các hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật; gây rối an ninh trật tự.

b. Không để xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp phức tạp trong nội bộ nhân dân; khiếu kiện đông người, khiếu kiện vượt cấp kéo dài.

Chỉ tiêu 3

a. Kiềm chế và làm giảm các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác so với năm trước, không để xảy ra tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng (từ 7 năm tù trở lên).

b. Kiềm chế và làm giảm tai nạn, tệ nạn xã hội so với năm trước. Không để xẩy ra cháy, nổ, tai nạn giao thông và tai nạn lao động nghiêm trọng.

Câu hỏi: Để thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020, Nhà nước phải sử dụng những nguồn vốn nào?

Trả lời: Để thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020, Nhà nước phải sử dụng những nguồn vốn là:

a. Vốn ngân sách
-Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai và sẽ tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo trên địa bàn: khoảng 23%.

-Vốn trực tiếp cho chương trình để thực hiện các nội dung: công tác quyhoạch; đường giao thông đến trung tâm xã; xây dựng trụ sở xã; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ ấp và cán bộ hợp tác xã; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; đường giao thông ấp, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; phát triển sản xuất và dịch vụ; nhà văn hóa ấp; công trình thể thao ấp; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản: khoảng 17%.

b. Vốn tín dụng (bao gồm tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng thương mại): khoảng 30%.
c. Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác: khoảng 20%.
d. Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư: khoảng 10%
Câu hỏi: Để thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020, Nhà nước thực hiện nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn như thế nào?

Trả lời: Để thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020, Nhà nước thực hiện nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn như sau:

a. Hỗ trợ 100% từ ngân sách Trung ương cho: công tác quy hoạch; đường giao thông đến trung tâm xã; xây dựng trụ sở xã; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ ấp và cán bộ hợp tác xã.

b. Hỗ trợ một phần từ ngân sách Trung ương cho xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; phát triển sản xuất và dịch vụ; nhà văn hóa thôn; công trình thể thao thôn; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản.

c. Mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương căn cứ điều kiện kinh tế xã hội để bố trí phù hợp với quyđịnh tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Ưu tiên hỗ trợ cho các địa phương khó khăn chưa tự cân đối ngân sách, địa bàn đặc biệt khó khăn và những địa phương làm tốt.

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và một số mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn

Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và một số mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn

Phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện vẫn được coi là vấn đề then chốt, quyết định sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nói riêng của nhiều quốc gia. Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, sự đóng góp của nông nghiệp, nông thôn vào sự phát triển chung của quốc dân càng to lớn. Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường.

Vai trò cơ bản của nông nghiệp, nông thôn thể hiện dưới đây:

Nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Đồng thời, nông nghiệp cũng là ngành cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác. Nông nghiệp giúp phát triển thị trường nội địa, việc tiêu dùng của người nông dân và mạng dân cư nông thôn đối với hàng hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng (vải, đồ gỗ, dụng cụ gia đình, vật liệu xây dựng), hàng hóa tư liệu sản xuất (phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, trang thiết bị, máy móc) là tiêu biểu cho sự đóng góp về mặt thị trường của ngành nông nghiệp đối với quá trình phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, nông nghiệp còn mang lại nguồn ngoại tệ và nguồn nhân lực cho nền kinh tế. Thông qua nguồn thu từ thuế đất nông nghiệp, thuế xuất khẩu nông sản, nhập khẩu tư liệu sản xuất nông nghiệp, Nhà nước sẽ thu được một nguồn ngân sách lớn, dùng đầu tư cho phát triển kinh tế.

Xem thêm : Vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội; là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại. Nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng, biển nên sự phát triển bền vững nông thôn có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khu vực nông thôn đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước. Vai trò của phát triển nông thôn còn thể hiện trong việc gìn giữ và tô điểm cho môi trường sinh thái của con người, tạo sự gắn bó hài hòa giữa con người với thiên nhiên và hình thành những nơi nghỉ ngơi trong lành, giải trí phong phú, vùng du lịch sinh thái đa dạng và thanh bình, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho con người.

Để có thể phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện và bền vững, Việt Nam cần phải xây dựng một mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mình. Thực tiễn kinh nghiệm các quốc gia cho thấy các mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn được áp dụng chủ yếu trên thế giới thành công hay thất bại phụ thuộc nhiều vào quan điểm và chính sách của Nhà nước đối với quá trình này. Đối với các nước đang trong quá trình CNH, phát triển của khu vực nông nghiệp nông thôn đang được coi là chìa khoá cho phát triển bền vững, song ở nhiều nơi việc thiếu hụt các nguồn lực cũng như nhận thức chưa đầy đủ về vai trò quan trọng này đã khiến quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn diễn ra hết sức đa dạng ở những quốc gia có đặc điểm và lộ trình phát triển không giống nhau, song xét về bản chất có thể thấy tập trung vào ba mô hình chủ đạo sau đây:

Một là, mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn ngoại sinh, diễn ra ở những nền kinh tế có cơ sở công nghiệp phát triển mạnh mẽ giúp thu hút một lực lượng lao động lớn khỏi nông nghiệp - nông thôn, đến một mức độ phát triển nhất định có xu hướng chuyển dịch công nghiệp về nông thôn và lấy HĐH nông nghiệp - nông thôn làm xung lực mới cho quá trình công nghiệp hóa. Mô hình này phổ biến đối với các nước phát triển, là sản phẩm của thời kỳ “hậu công nghiệp”.

Hai là, mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn nội sinh, diễn ra ở những nền kinh tế có cơ sở công nghiệp còn lạc hậu, không đủ sức thu hút lực lượng lao động lớn từ nông nghiệp - nông thôn, buộc khu vực nông nghiệp - nông thôn phải thực hiện tự hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu sang các ngành công nghiệp và dịch vụ để giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn. Mô hình này phổ biến đối với các nước đang phát triển, không phải là sự nối dài của công nghiệp thành thị mà có thể trở thành lực lượng bổ sung hoặc thậm chí cạnh tranh với công nghiệp thành thị trong quá trình công nghiệp hóa.

Ba là, mô hình CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn hỗn hợp, là sự kết hợp của hai mô hình nêu trên. Mô hình này được áp dụng ở nhiều quốc gia mới CNH hoặc mới nổi, trong đó cơ sở công nghiệp cũng đã có những tích lũy nhất định song lực lượng lao động ở khu vực nông nghiệp - nông thôn vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, quá trình chuyển dịch công nghiệp từ thành thị tới nông thôn diễn ra song song với HĐH nông nghiệp - nông thôn, kết cấu nhị nguyên trong kinh tế này khi được vận dụng phù hợp đã đưa tới sự thành công nhanh chóng của nhiều nền kinh tế trong quá trình CNH.

Mặc dù mỗi quốc gia hay nền kinh tế có điều kiện đặc thù riêng, song lịch sử phát triển công nghiệp hóa của các quốc gia trên thế giới trải qua vài trăm năm đã chứng tỏ rằng chỉ những quốc gia nào xây dựng được chính sách phát triển trong đó ý thức được tầm quan trọng của khu vực nông nghiệp, phát triển nông thôn và dành cho khu vực này quyết tâm chính trị cao độ mới có thể thành công trong công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng và công nghiệp hóa nền kinh tế nói chung. Ngoài ra, để phát triển nông nghiệp - nông thôn hiệu quả, mỗi nước cần sử dụng tất cả những điều kiện sẵn có, từ kiến thức công nghệ sinh học hiện đại cho tới những kinh nghiệm cổ truyền. Mỗi địa phương, mỗi quốc gia đều có thể lựa chọn để phát triển bền vững nền nông nghiệp của mình.

--------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1.    Đặng Kim Sơn. Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội 2008.
2.    CIEM, Đặc điểm kinh tế nông thôn Việt Nam, Kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm 2010 tại 12 tỉnh.
3.    Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội quốc gia, Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp và nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa.



Trích nguồn:
Tác giả: NCV. Đinh Thu Nga

Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và một số mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2016

Giáo sư Trường ĐH Massey :Phương pháp xây dựng đề cương luận án nghiên cứu tiến sĩ

Giáo sư Trường ĐH Massey :Phương pháp xây dựng đề cương luận án nghiên cứu tiến sĩ

Nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu cho các cán bộ, giảng viên chuẩn bị làm nghiên cứu sinh, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN tổ chức Hội thảo “Phương pháp xây dựng đề cương luận án nghiên cứu tiến sĩ” vào ngày 8 và 9/4/2010.

Hội thảo đã nhận được sự quan tâm của nhiều cán bộ, giảng viên từ các trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ quan Nhà nước là các ứng viên tiềm năng cho Chương trình phối hợp đào tạo tiến sĩ.
Tại hội thảo, GS. Stuart Birks đã chia sẻ với các ứng viên những kinh nghiệm trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học để làm tiến sĩ tại các trường đại học trên thế giới, cách viết bản đề cương nghiên cứu khoa học và ý tưởng khoa học.
Xem thêm : Gợi ý cách viết đề cương luận án tiến sĩ
Theo GS. Stuart Birks, nội dung nghiên cứu của một đề tài khoa học được phản ánh một cách cô đọng nhất trong tiêu đề/ tên của nó. Vì vậy, việc lựa chọn tên đề tài có ý nghĩa hết sức quan trọng. Giáo sư nhấn mạnh, tên đề tài cần có tính đơn nghĩa, khúc triết, chuyên biệt, không trùng lặp với tên các đề tài đã có, không dẫn đến những hiểu lầm, hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Đề tài phải phù hợp với mã ngành đào tạo; không nên có nội dung nghiên cứu quá rộng; vần đề được nghiên cứu phải có giá trị khoa học và thực tiễn. GS. Stuart Birks khuyên các ứng viên nên đi sâu vào nghiên cứu từ một đến hai vấn đề để kết luận có tính khoa học cao và cần tránh các đề tài có chung nhiều chuyên ngành hay quá đặc thù - đây cũng lỗi mà rất nhiều nghiên cứu sinh mắc phải.
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Một đề cương nghiên cứu luận án tiến sĩ thường gồm 6 phần chính: Đặt vấn đề; Tổng quan tài liệu; Nội dung, địa điểm, vật liệu và phương pháp nghiên cứu; Dự kiến kết quả; tiến độ; Tài liệu tham khảo. Trong đó, tổng quan tài liệu là phần rất quan trọng mà nghiên cứu sinh cần trình bày kỹ, có logic các vấn đề để thể hiện đúng tầm quan trọng của đề tài.
Kết luận cho bài thuyết trình, Giáo sư nhấn mạnh: “Nghiên cứu giống như một quá trình điều tra, vì vậy, đừng hy vọng có thể đoán được kết quả trước khi bắt đầu và kết quả cuối cùng có thể rất khác so với ý tưởng ban đầu”
Không khí của Hội thảo càng trở nên sôi nổi khi các ứng viên tích cực thảo luận, trao đổi với GS. Stuart Birks về cách chọn đề tài nghiên cứu, cách trình bày đề cương nghiên cứu sinh, phương pháp giải quyết các vấn đề cần nghiên cứu và được diễn giả giải đáp chi tiết, nhiệt tình.

Giáo sư Trường ĐH Massey :Phương pháp xây dựng đề cương luận án nghiên cứu tiến sĩ

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Các khái niệm về chuỗi giá trị

Các khái niệm về chuỗi giá trị


Khái niệm chuỗi

Khái niệm về trình tự đầu tiên được đề cập trong các phương pháp của lý thuyết dây (FILIERE). Phương pháp này bao gồm các trường nghiên cứu tư tưởng khác nhau và sử dụng nhiều lý thuyết như phân tích hệ thống, tổ chức công nghiệp, các ngành kinh tế, quản lý khoa học và kinh tế chính trị Mác-xít. Ban đầu, cách tiếp cận này là các học giả người Pháp sử dụng để phân tích các hệ thống nông nghiệp của Mỹ những năm 1960, trong đó bao gồm các đề xuất cho việc phân tích các hệ thống nông nghiệp Pháp và hội nhập theo chiều dọc các tổ chức trong hệ thống nước này. Chính sách nông nghiệp của Pháp sử dụng phương pháp này như một công cụ để tổ chức sản xuất các mặt hàng xuất khẩu đặc biệt đối với các mặt hàng như cao su, bông, cà phê và dừa. Cho đến những năm 1980, phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Trong thời gian này khung FILIERE không chỉ tập trung vào hệ thống sản xuất nông nghiệp mà còn đặc biệt chú ý đến các mối liên kết giữa hệ thống này với người tiêu dùng may công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và cuối cùng [63].

Khái niệm về chiến lược và quản lý chiến lược
Các khái niệm về thương hiệu
Khái niệm về tài chính
Khái niệm về chương trình đào tạo chất lượng cao
Khái niệm về hoạt động thị trường mở
Trong lý thuyết dây, các khái niệm về chuỗi được sử dụng để mô tả các hoạt động liên quan đến quá trình sản xuất để sản phẩm cuối cùng (có thể là một sản phẩm hoặc dịch vụ). Nhìn lại việc phân tích các trình tự của các học giả sau này, khái niệm chuỗi trong cách tiếp cận này không có sự khác biệt đáng kể cho các khái niệm chuỗi giá trị trong tương lai. Phương pháp chuỗi bị ảnh hưởng bởi sự phân hủy của các nền kinh tế Mỹ trong những năm 1950, nó chủ yếu tập trung vào đo lường đầu vào và đầu ra và giá trị gia tăng tạo ra trong các giai đoạn của quá trình sản xuất.

Cách tiếp cận này nhấn mạnh sự đóng góp của các bộ phận kế toán và đề xuất hai dòng chảy quan trọng của ý tưởng. Đầu tiên, các đánh giá của chuỗi kinh tế và tài chính tập trung vào các vấn đề và phân phối thu nhập được tạo ra trong chuỗi hàng hóa, và các chi phí tách và thu nhập giữa các thành phần tham gia trong chuỗi địa phương và quốc tế. Kể từ đó, phân tích ảnh hưởng của chuỗi cho nền kinh tế quốc gia và đóng góp cho GDP theo phương pháp ảnh hưởng. Thứ hai là trọng tâm chiến lược của những người tham gia trong chuỗi. Các phân tích là để giúp các dây chuyền và dây chuyền bộ phận cá nhân xây dựng các chiến lược dựa trên giá trị gia tăng tạo ra trong hoạt động của các cá nhân hoặc các phòng ban.

Các lý thuyết phương pháp chuỗi đầu tiên đề cập đến việc nghiên cứu các chuỗi các hoạt động tạo ra giá trị cho một mặt hàng cụ thể. Điểm nổi bật của phương pháp này là nó chỉ áp dụng cho các chuỗi giá trị trong nước, tức là những hoạt động phát sinh trong phạm vi biên giới của một quốc gia nhất định. Đây là phương pháp đã mang lại lợi ích cho các tổ chức sử dụng lý thuyết này để quản lý các hoạt động trong một thời gian dài. Sau đó, các lý thuyết về chuỗi giá trị vẫn thường gọi phương pháp này là cơ sở lý thuyết của phân tích giá trị.

Chuỗi giá trị của Michael Porter


Chuỗi giá trị phương pháp Michael Porter đưa ra vào những năm 1980 trong cuốn sách "Lợi thế cạnh tranh: Tạo và duy trì thành tích xuất sắc trong kinh doanh", xuất bản năm 1985, được dịch sang tiếng Việt vào năm 2009 [26, tr. 71-106]. Các khái niệm về giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị sẽ được coi là yếu tố để tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững của một tổ chức kinh doanh trong thế kỷ 21. Theo Michael Porter, khái niệm về chuỗi giá trị được sử dụng để giúp các doanh nghiệp có thể tìm thấy một lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) của mình. Ông cho rằng, một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị bằng với đối thủ cạnh tranh của mình với chi phí thấp hơn hoặc chi phí cao hơn nhưng có những đặc điểm mà khách hàng mong muốn. Porter cho rằng, nếu chúng ta nhìn vào một doanh nghiệp như một toàn bộ các hoạt động, quá trình khó khăn, thậm chí không thể, để tìm ra chính xác những lợi thế cạnh tranh của họ. Nhưng điều này có thể được thực hiện dễ dàng khi tách thành các hoạt động bên trong. Bằng cách đó, Porter phân biệt giữa các hoạt động cơ bản hoặc các hoạt động chính mà trực tiếp góp phần làm tăng giá trị sản xuất hàng hoá (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có tác động gián tiếp giá trị cuối cùng của sản phẩm.

Xem thêm: Tổng quan về các tài liệu về các ngành công nghiệp chuỗi giá trị và may mặc xuất khẩu
Hình dưới đây minh họa lý thuyết về chuỗi giá trị của Michael Porter trong một tổ chức.

Chuỗi giá trị của Michael Porter
Hình 1.1 Mô hình chuỗi giá trị của Porter

Đặc biệt, các hoạt động cơ bản bao gồm:

- Logistics bên trong: các hoạt động tiếp nhận, quản lý lưu trữ tài liệu và phân phối nguyên liệu đến các địa điểm kinh doanh theo yêu cầu của kế hoạch sản xuất.

- Các hoạt động hoạt động: chuyển đổi các yếu tố đầu vào thành các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng.

- Logistics bên ngoài: việc quản lý dự trữ và phân phối các sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp.

- Tiếp thị và bán hàng: xác định nhu cầu của khách hàng và bán hàng.

- Dịch vụ: hoạt động hỗ trợ sau khi sản phẩm và dịch vụ này được giao cho khách hàng như cài đặt và sau khi dịch vụ bán hàng, giải quyết khiếu nại, đào tạo, ...

Các hoạt động hỗ trợ bao gồm:

- Doanh nghiệp Cơ sở hạ tầng: bao gồm các yếu tố như cơ cấu tổ chức, hệ thống điều khiển, văn hóa công ty, ...

- Quản lý nguồn nhân lực: tuyển dụng, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và thù lao lao động.

- Phát triển công nghệ: sự hỗ trợ công nghệ cho các hoạt động để tạo ra giá trị gia tăng.

- Mua: mua nguyên liệu đầu vào như nguyên vật liệu, công nghệ, thiết bị, dịch vụ và đầu vào khác ...

Lợi nhuận của một doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp triển khai thực hiện có hiệu quả như thế nào. Nếu các doanh nghiệp biết làm thế nào để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm và khách hàng sẵn sàng trả tiền cho giá trị này, các doanh nghiệp đã tạo ra giá trị thặng dư. Michael Porter đề xuất một doanh nghiệp có thể có được lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách tập trung vào chiến lược
giá thấp hoặc làm cho một sự khác biệt cho sản phẩm của bạn hoặc dịch vụ, hoặc kết hợp cả hai cách tiếp cận đó.
Các khái niệm về chuỗi giá trị theo Michael Porter trong công việc này đề cập đến các mô của doanh nghiệp. Mô hình chuỗi giá trị ông đề xuất đã được coi là một công cụ nguy hiểm để phân tích các lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp bằng cách trả lời các câu hỏi: "Điều gì thực sự làm việc trong các doanh nghiệp có lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh khác" và "bây giờ sẽ cạnh tranh dựa trên thấp chi phí, sự phân biệt các sản phẩm, dịch vụ hoặc kết hợp cả hai yếu tố gì? ".

Phương pháp tiếp cận toàn cầu Kaplinsky và Morri 2001

Nếu khái niệm về chuỗi giá trị của Michael Porter nghiên cứu đã đề cập ở trên tập trung vào quy mô của doanh nghiệp, sau đó Kaplinsky và Morri trong "Sổ tay chuỗi giá trị" để mở rộng trong phạm vi của chuỗi giá trị. Theo các tác giả, các chuỗi giá trị là một tập hợp các hoạt động bao gồm các sản phẩm từ ý tưởng, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng và sẽ bị loại bỏ sau khi sử dụng [65, tr. 4].

Các mối quan hệ trong một chuỗi giá trị đơn giản

Hình 1.2 Mối quan hệ của một chuỗi giá trị đơn giản

Hai tác giả đã đưa ra hai khái niệm về chuỗi giá trị: chuỗi giá trị đơn giản và mở rộng chuỗi giá trị. Theo họ, các chuỗi giá trị đơn giản (như minh họa trong hình 1.2) bao gồm bốn hoạt động cơ bản trong một thiết kế vòng đời sản phẩm và phát triển sản phẩm, sản xuất, tiếp thị và tiêu thụ và cuối cùng là tái sử dụng. Các khái niệm về chuỗi giá trị được áp dụng để phân tích toàn cầu hóa, cụ thể là nó được sử dụng để tìm hiểu làm thế nào các công ty và các quốc gia hội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến sự phân bố thu nhập toàn cầu.

Kaplinsky và Morris cho biết phân tích chuỗi giá trị về cho thấy trong số các hoạt động liên quan đến vòng đời của sản phẩm đã được liên kết với nhau một cách chặt chẽ. Những hoạt động này không chỉ được thiết lập trong một thẳng đứng mà còn tương tác với nhau. Ví dụ, các bộ phận thiết kế và phát triển sản phẩm không chỉ ảnh hưởng và thậm chí quyết định bản chất, quá trình sản xuất, mà còn ảnh hưởng đến nội dung của hoạt động tiếp thị. Tuy nhiên, các hoạt động tiếp thị cũng góp phần ảnh hưởng đến các hoạt động thiết kế và phát triển sản phẩm, bởi vì trong quá trình này người ta luôn luôn có để có những sản phẩm được bán trên thị trường như thế nào.

Mở rộng chuỗi giá trị của ngành công nghiệp đồ nội thất gỗ

Hình 1.3 Chuỗi giá trị mở rộng của ngành công nghiệp đồ nội thất gỗ

Chuỗi giá trị mở rộng đề xuất một mô hình phức tạp hơn so với các mô hình đơn giản bởi vì nó có rất nhiều mối liên hệ cả các liên kết thượng nguồn và hạ nguồn của doanh nghiệp, tức là có tính liên kết dọc trong quá trình kể từ khi các yếu tố đầu vào được hình thành cho đến khi sản phẩm đạt các người tiêu dùng (Hình 1.3).

Hình 1.3 mô tả mối quan hệ của các phần mở rộng chuỗi giá trị sản phẩm gỗ nội thất. Theo Kaplinsky và Morris, khi xem xét nội thất gỗ là quan trọng cần lưu ý từ các quá trình của việc tạo ra các sản phẩm ngành trồng (có nghĩa là quan tâm đến các vấn đề cây, nước, máy móc, hóa chất và các dịch vụ khác) và sau đó là ngành công nghiệp chế biến gỗ. Tương tự như vậy, sau khi hoàn thành các nội
đồ gỗ nội thất, bạn cần chú ý đến việc phân phối các sản phẩm cho người tiêu dùng.

Các khái niệm về chuỗi giá trị

Một đánh giá của các tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị của ngành công nghiệp may mặc xuất khẩu

Một đánh giá của các tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị của ngành công nghiệp may mặc xuất khẩu

Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề của chuỗi giá trị xuất khẩu hàng dệt may từ Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi một nghiên cứu để tiếp cận vấn đề này về phạm vi và đối tượng khác nhau. Dưới đây là tóm tắt của nghiên cứu đó.

- "Các giải pháp chiến lược để nâng cao hiệu quả của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam" của Phạm Thị Thu Phương, Khoa học và Kỹ thuật Nhà xuất bản năm 2000. Tác phẩm này đã được hệ thống hóa những vấn đề lý luận của việc nâng cao hiệu quả phát triển của ngành công nghiệp dệt may của Việt Nam. Dựa trên các phân tích môi trường và các bài học kinh nghiệm cho các ngành công nghiệp dệt may tại Việt Nam, các tác giả cung cấp các giải pháp chiến lược để nâng cao hiệu quả của các ngành công nghiệp may mặc [16].

- "Hướng và biện pháp chủ yếu để phát triển ngành công nghiệp dệt máy trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam", luận án tiến sĩ của Dương Đình Giám năm 2001. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiện trạng của sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may của Việt Nam, tìm ra kết quả tốt đạt được, những tồn tại và nguyên nhân, trong đó đề xuất một số biện pháp để phát triển ngành dệt may của Việt Nam [mười].

- "Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập" của các tác giả trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), năm 2004. Trong bài viết về dệt may ngành công nghiệp được gọi là "Ngành Dệt may Việt Nam: Giá trị gia tăng và chiến lược phát triển", các tác giả đã phân tích các phương thức sản xuất
Xuất khẩu của ngành công nghiệp dệt may tại Việt Nam bao gồm cả phương pháp chế biến xuất khẩu và xuất khẩu trực tiếp. Dựa trên phân tích của mình, các tác giả đã đề xuất ngành công nghiệp dệt may chính sách phát triển [7].

[Loại tin nhắn = "cảnh báo"] Xem thêm: Tầm quan trọng của việc nghiên cứu các chuỗi giá trị trong ngành du lịch [/ tin nhắn]

- Trong khuôn khổ Dự án nghiên cứu hợp tác Việt Nam-Đan Mạch tên là "Nâng cao năng lực nghiên cứu trong kinh doanh quốc tế và quốc tế hóa của các doanh nghiệp ở Việt Nam" do Bộ Ngoại giao tài trợ của Đan Mạch, đội cứu ngành công nghiệp dệt may bao gồm Phạm Thu Hương và các đồng nghiệp của mình đã tập trung về vấn đề "chiến lược và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sau khi
Trong khi nâng hệ thống hạn ngạch dệt may- một cách tiếp cận trong chuỗi giá trị toàn cầu. "Dựa trên các cuộc khảo sát được tiến hành ở Việt Nam từ tháng Tư đến tháng 6 năm 2006, tập trung vào các chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, giấy xác định nhà xuất khẩu Việt Nam đã gia nhập thế nào để chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và nhu cầu của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ một phương pháp chế xuất (CMT) với phương pháp trực tiếp xuất khẩu (FOB). Mặc dù các nhà nghiên cứu đã phân tích chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp dệt may nhưng báo cáo vẫn chưa được định lượng giá trị được tạo ra ở mỗi giai đoạn của chuỗi giá trị [15].

- "Thúc đẩy sự tham gia của các chuỗi giá trị toàn cầu (chuỗi giá trị toàn cầu - GVC) để cải thiện năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam", các tác giả Đại học Ngoại thương trong năm 2008. Điều này có thể cho biết nghiên cứu này là một tương đối đầy đủ các chuỗi giá trị và năng lực cạnh tranh của dệt may và các doanh nghiệp may mặc ở Việt Nam cho đến nay. Tuy nhiên,
nghiên cứu tương tự, báo cáo này đã không thể định lượng sự đóng góp của các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu [23].

- "Phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị để nâng cấp ngành dệt may Việt Nam", các tác giả của Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Bài viết được đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Đại học Đà Nẵng 2 (37), năm 2010. Các bài viết tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu để giải thích sự thay đổi trong hệ thống sản xuất và thương mại của ngành công nghiệp dệt may thế giới. Qua phân tích tình huống, bài viết đề xuất các chính sách để hỗ trợ quá trình nâng cấp, các sản phẩm và chức năng để mô hình các nhà sản xuất thiết bị gốc, thay vì nhằm để nhảy phá vào các hệ thống sản xuất gia công sản xuất định hướng xuất khẩu truyền thống với các nhà sản xuất thương hiệu trái cây [40]. Trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào các chuỗi giá trị của ngành công nghiệp dệt may của khu vực, các nước, trong đó có Việt Nam như sau.

- "Công nghiệp may mặc của Việt Nam: Di chuyển lên chuỗi giá trị" của tác giả Hassan Oteifa, Dietmar Stiel, Roger Fielding, Peter Davies, đại diện của các trường Đại học Hà Nội, đại diện của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoàn thành vào năm 1999 và được sửa đổi năm năm 2000. Đây là một công trình nghiên cứu để đáp ứng các yêu cầu của dự án trong khuôn khổ nghiên cứu về MPDF của Việt Nam. Mục đích của nghiên cứu là để hiểu những khó khăn liên quan đến việc vận hành và tiếp thị của các doanh nghiệp dệt may tư nhân ở Việt Nam, từ đó đề xuất được hỗ trợ bởi MPDF cho các doanh nghiệp [57].

- "Các chuỗi dệt may toàn cầu: Những triển vọng nâng cấp của các nước đang phát triển" đã được tổ chức UNIDO công bố vào năm 2003 bởi hai tác giả Appelbaum và Gereffi hoàn thành. Bài viết này sử dụng các lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu để giải thích sự thay đổi của sản xuất, thương mại và chiến lược của công ty trong ngành công nghiệp may mặc trong nhiều thập kỷ. Nghiên cứu tập trung vào sự khác biệt của mô hình cạnh tranh trong khu vực phía bắc của thị trường Mỹ nói riêng khu vực Đông Á, UAE, và vùng Caribê. Mỗi mô hình cung cấp các quan điểm và thách thức khác nhau [48].

- "Việt Nam trong ngành may mặc và dệt may giá trị chuỗi toàn cầu: Những gợi ý cho doanh nghiệp và người lao động" của Khalid Nadvi và John Thoburn năm 2003. Đây là kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ của Chương trình Toàn cầu hóa và sự nghèo đói. Trong môi trường toàn cầu hóa của sự thay đổi ngày hôm nay có nhiều thách thức đối với ngành công nghiệp dệt may và may mặc. Những thách thức mà có những tác động nhất định cho người sản xuất và người lao động ở các nước đang phát triển, tạo ra sự thành công và kẻ thất bại. Cho rằng một trong những quốc gia thành công đáng chú ý là Việt Nam, các tác giả đã sử dụng mô hình chuỗi giá trị toàn cầu để phân tích trường hợp Việt Nam mà cụ thể là các mối quan hệ của Việt Nam để mua tất cả các cây cầu và mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt may và bây giờ may lại với nhau [60] với Mục tiêu của việc đánh giá tác động của toàn cầu hóa như thế nào để các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam.

- "Như thế nào, cụm công nghiệp thành công: một trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực dệt của Trung Quốc và các ngành công nghiệp may mặc của Zhang Zhiming, Chester và Ning Gao" được xuất bản trong Tạp chí Quản lý và Công nghệ dệt may Trung Quốc, số 4, 2004. Các bài viết sưu tập trung cho sự thành công các cụm công nghiệp ở Trung Quốc trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế và đưa ngành dệt may là tình hình nghiên cứu
thịt cừu. Từ việc phân tích các cụm công nghiệp ở tỉnh Giang Tô Ngô dệt may, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các yếu tố chi phối sự thành công của các cụm công nghiệp cũng như sức cạnh tranh của ngành công nghiệp được cho là trụ cột của nền kinh tế nước này [71].

- Các bài viết "chuỗi cung ứng công nghiệp may" bởi Celia Mather xuất bản vào năm 2004 thông qua Nhà xuất bản Motropolitan Đại học Manchester, Vương quốc Anh. Bài viết tập trung vào mô tả chuỗi cung ứng toàn cầu của may với nghiên cứu trường hợp là công ty GAP. Bài viết được hoàn thành bởi nhiều nhóm nghiên cứu từ nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Hong Kong, Bangladesh, Thái Lan, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, khuyến nghị tập trung cho làm thế nào các công ty có thể may phân chuỗi cung ứng tích hợp, tăng cường hợp tác giữa các nhân viên chính thức và không chính thức, và hợp tác trong chuỗi cung ứng. Cuối cùng, nghiên cứu tập trung vào việc giúp các công nhân của các công ty đang tìm cách cải thiện vị trí của họ trong quá trình sản xuất
đầu ra [49].

- Ngoài ra, nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị / chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp dệt may ở nhiều nước trên thế giới hoặc các khía cạnh liên quan đến ngành công nghiệp dệt may và chuỗi giá trị ngành công nghiệp may mặc [50], [52], [54], [55 ] và [59]. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào phân tích rõ ràng về tình trạng hiện tại của chuỗi giá trị của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam cũng như sự liên kết của các doanh nghiệp này.

Một đánh giá của các tài liệu nghiên cứu về chuỗi giá trị của ngành công nghiệp may mặc xuất khẩu