Khái niệm hội tụ kế toán quốc tế
Như đã trình bày trong phần lược sử quá trình hội tụ kế toán quốc tế, khái niệm “hội tụ” (convergence) lần đầu tiên được IASC đề cập đến trong Báo cáo chiến lược của mình năm 1998 (IASC, 1998c) và sau đó được khẳng định trong Hiến chương của IASB như một mục tiêu của tổ chức này (IASC Foundation, 2010). Có hai cách giải thích hiện nay về khái niệm hội tụ:
- Trong cách thứ nhất, hội tụ được hiểu là quá trình phát triển hướng đến một hệ thống chuẩn mực kế toán toàn cầu chất lượng cao. Herz & Petrone (2005) nhìn nhận hội tụ là quá trình mà tiền thân là “hòa hợp” rồi “quốc tế hóa” đến nay là “hội tụ”. Hội tụ kế toán quốc tế nhằm thiết lập chuẩn mực chất lượng cao để cải thiện so sánh phạm vi quốc tế về thông tin tài chính, giảm chi phí cho người sử dụng, nhà đầu tư, kiểm toán nhằm phát triển thị trường vốn toàn cầu. Zeff (2007) cho rằng ban đầu IASC đã sử dụng khái niệm hòa hợp nhưng ngày nay IASB đã sử dụng khái niệm hội tụ nhằm gia tăng tính so sánh thông tin trên báo cáo tài chính và hướng đến một bộ tiêu chuẩn có chất lượng cao hơn. Zhang & Qu (2010) cho rằng hội tụ là hướng đến một điểm duy nhất để đạt sự thống nhất chung. Việc phát triển chuẩn mực của IASB là sự chuyển đổi từ hòa hợp sang hội tụ. Hội tụ được xem như là quá trình “tiêu chuẩn hóa” chuẩn mực. Hòa hợp và hội tụ không đối lập với nhau, cả hai thuật ngữ này phản ánh quá trình phát triển của chuẩn mực kế toán ở những mức độ khác nhau.
- Trong cách hiểu thứ hai, Bader (2009) và một số tác giả sử dụng thuật ngữ “hội tụ” như một chọn lựa để hội nhập quốc tế về kế toán, là áp dụng toàn bộ chuẩn mực quốc tế (adoption).
Trong nghiên cứu này, luận án sử dụng khái niệm hội tụ theo cách hiểu thứ nhất. Theo đó, hội tụ kế toán quốc tế là việc đi đến một hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thông tin ra quyết định trên thị trường vốn và các yêu cầu khác của nền kinh tế. Quá trình hội tụ kế toán quốc tế gắn với vai trò của Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế. Quá trình hội tụ không chỉ bao gồm giai đoạn từ năm 2001 khi IASB được hình thành mà bao gồm cả giai đoạn tạo tiền đề với vai trò quan trọng của IASC.
Thứ Năm, 19 tháng 2, 2015
Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015
Khái niệm và vai trò của vận tải hàng không
Vận tải hàng không nói theo nghĩa rộng là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiệu quả. Nếu nói theo nghĩa hẹp thì vận tải hàng không là sự di chuyển của máy bay trong không trung hay cụ thể hơn là hình thức vận chuyển hành khách, hàng hoá, hành lí, bưu kiện từ một địa điểm này đến một địa điểm khác bằng máy bay.
Vận tải hàng không là một ngành còn rất trẻ so với ngành vận tải khác.Nếu như vận tải đừơng biển ra đời và phát triển từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên thì vận tải hàng không mới chỉ phát triển từ những năm đầu của thế kỷ 20.
Vận tải hàng không khi mới ra đời chỉ phục vụ nhu cầu quân sự, nhưng cho đến nay, sự phát triển của vận tải hàng không đã gắn liền với nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hoá và nó đã trở thành một ngành quan trọng đối với nền kinh tế thế giới nói chung và đối với buôn bán quốc tế nói riêng.
Vận tải hàng không đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập và mở mang nhiều vùng kinh tế khác nhau và trong việc tạo bước phát triển chung cho nền kinh tế thế giới.Bản thân nó cũng là một ngành công nghiệp lớn, không ngừng phát triển.Năm 1967, tổng thu nhập của các công ty hàng không của các nước thuộc ICAO là 12,5 tỷ USD, tuơng đương 7% doanh thu của ngành công nghiệp trên thế giới, năm 1980, con số đó đã lên tới 87,676 tỷ USD, lợi nhuận của các hãng thành viên của IATA trong năm 1997 là 5 tỷ USD.
Tuy chỉ chuyên chở khoảng 1% tổng khối luợng hàng hoá trong buôn bán quốc tế nhưng lại chiếm khoảng 20% trị giá hàng hoá trong buôn bán quốc tế.Đối với những nước phát triển, vận tải hàng không chỉ chuyên chở một khối luợng nhỏ hơn 1%, nhưng lại chiếm khoảng 30% trị giá.
Điều này chứng tỏ vận tải hàng không có vai trò rất lớn đối với việc vận chuyển hàng hoá đặc biệt là hàng hóa có giá trị cao.
Vận tải hàng không có vị trí số một đối với vận tải quốc tế những mặt hàng mau hỏng, dễ thối, súc vật sống, thư từ, chứng từ, hàng nhạy cảm với thời gian, hàng cứu trợ khẩn cấp … những mặt đòi hỏi giao ngay cho máy bay có ưu thế tuyệt đối về tốc độ so với phương tiện vận tải khác.
Vận tải hàng không có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc giao lưu giữa các nước, là cầu nối giữa nền văn hoá giữa các dân tộc, là phương tiện chính của du khách quốc tế.
Vận tải hàng không là một mắt xích quan trọng để liên kết các phương thức vận tải, tạo ra khả năng kết hợp các phương thức vận tải với nhau như Vận tải hàng không/ vận tải biển, Vận tải hàng không/ vận tải ô tô … nhằm khai thác lợi thế của các phương thức vận chuyển.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động gia công xuất khẩu
Là một bộ phận của thương mại quốc tế hoạt động gia công xuất khẩu chịu tác động của rất nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố vĩ mô như môi trường sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đến những yếu tố vi mô đó là nội bộ sản xuất của công ty, không chỉ là những tác động của môi trường nội địa mà còn có tác động của các quốc gia khác trên thế giới.
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường doanh nghiệp được hiểu là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội, chính trị kinh tế, tổ chức và kỹ thuật, các tác động, các mối liên kết diễn ra bên trong bên ngoài doanh nghiệp có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Môi trường đó bao gồm cộng đồng các doanh nghiệp có các mối liên hệ với nhau và các mối liên hệ này phải được giải quyết theo những quan điểm truyền thống của một quốc gia, một cộng đồng người. Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong một môi trường kinh doanh nhất định và chịu sự tác động của môi trường kinh doanh đó. Tuy nhiên, khi phát triển đến một mức độ nào đó thì doanh nghiệp tác động trở lại môi trường kinh doanh.
Hoạt động gia công quốc tế là một bộ phận của thương mại quốc tế. Chính vì vậy môi trường kinh doanh ở đây không đơn giản là trong nội bộ một quốc gia mà lớn hơn nó chịu tác động của nhiều yếu tố như khác biệt về luật pháp, văn hoá, tập quán kinh doanh…Trong đó hai yếu tố công nghệ và pháp luật là hai yếu tố tác động nhiều nhất đến hoạt động này. Những quốc gia có công nghệ cao thường là những nước đặt gia công và là những nước chủ động tìm được thị trường do vậy mà thường nhận được khoản lợi nhuận lớn hơn, ngược lại những nước nhận gia công thường là những nước có trình độ công nghệ kém hơn chỉ tiến hành nhập nguyên liệu và sản xuất theo các mẫu đơn đặt hàng có sẵn chính vì vậy mà chỉ được hưởng một khoản phí gia công theo một tỷ lệ nhất định thường là rất thấp.
Các yếu tố khác như chính trị như các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và nhà nước các qui định về thuế, về hải quan…đều tác động đến hoạt động này. Ví dụ như qui định về thủ tục hải quan mà đơn giản thì sẽ khiến các doanh nghiệp nước ngoài có thể dễ dàng hơn trong việc chuyển nguyên liệu sang hay nhập hàng về vì vậy thúc đẩy hoạt động gia công phát triển. Những thủ tục hành chính phức tạp hay chính sách không thông thoáng để khuyến khích các nhà đặt gia công sẽ làm giảm số lượng đơn hàng. Yếu tố văn hoá gồm những yếu tố như : nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, thói quen, phong tục…thường thì tác động nhiều hơn đến bên đặt gia công vì họ thường là bên nghiên cứu về các loại kiểu dáng, mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Do vậy, bên nhận gia công chỉ bị ảnh hưởng gián tiếp.
Các nhân tố thuộc nội bộ công ty
Nếu các nhân tố bên ngoài công ty quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp thì các nhân tố bên trong quyết định tiềm lực của doanh nghiệp đó. Nó quyết định đến khả năng chịu rủi ro cũng như khả năng nắm bắt các cơ hội trong kinh doanh đặc biệt là kinh doanh xuất khẩu. Các nhân tố này bao gồm: Năng lực sản xuất và trình độ công nghệ, tình hình nhân sự, tình hình Marketing, tình hình tài chính.
Năng lực sản xuất và trình độ công nghệ : Đây là điều kiện để công ty gia công có thể có được chi phí rẻ hơn, tăng lợi nhuận và tăng qui mô sản xuất. Nếu một công ty có dây chuyền sản xuất hiện đại có khả năng tăng năng xuất thì sẽ tạo được ra nhiều việc làm hơn cho công nhân đem về nguồn lợi nhuận lớn hơn do vậy tăng sức mạnh cho công ty là điều kiện để công ty có thể chuyển tiếp sang xuất khẩu trực tiếp.
Tình hình nhân lực: Phản ánh thực tế về số lượng cũng như trình độ của cán bộ công nhân viên của công ty. Hiệu quả của công việc tốt hay không thì cần phải xem xem người tiến hành công việc đó như thế nào. Đặc biệt trong hoạt động kinh doanh buôn bán xuất nhập khẩu thì nhân lực còn phải cần những người thực sự có trình độ, kinh nghiệm trong việc ký kết các hợp đồng giao dịch. Việc nhận gia công tuy ít đòi hỏi đến khả năng trên nhưng nếu nước nhận gia công mà không tiếp tục tiếp cận và học hỏi thì sẽ mãi mãi ở vị trí của nước nhận gia công thuê cho nước ngoài, và cũng khó nhận được những hợp đồng đặt hàng. Có thể nói yếu tố nhân lực là yếu tố đánh gía sự năng động của một doanh nghiệp.
Tình hình Marketing: Ngày nay khi một doanh nghiệp bắt tay vào kinh doanh luôn luôn có ý thức phải gắn kinh doanh của doanh nghiệp mình với thị trường. Bên cạnh những yếu tố như nhân lực, tài chính, quản lý sản xuất thì chức năng Marketing là một chức năng không thể tách rời bởi nó là chức năng kết nối hoạt động của doanh nghiệp với thị trường. Trong hoạt động gia công , bên đặt gia công thường là bên chú trọng nhiều hơn đến hoạt động này, tuy vậy bên nhận gia công cũng phải chú trọng vì nếu không liên kết tốt với thị trường thì khó nhận được nhiều đơn hàng dành cho sản xuất. Do vậy, doanh nghiệp đặt hàng luôn phải nghiên cứu xem nhu cầu của người tiêu dùng là gì để có chiến lược sản phẩm cụ thể còn bên nhận gia công thì nghiên cứu cùng công nghệ đó mình có thể đáp ứng được cho sản xuất của đối tác nào để tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng nhận gia công.
Tình hình tài chính: Được phản ánh qua các chỉ số doanh thu, lợi nhuận, tài sản…là nhân tố phản ánh thực lực của doanh nghiệp. Nếu tài chính của doanh nghiệp đủ mạnh sẽ có thể đầu tư tốt hơn cho dây chuyền công nghệ để sản xuất, sẽ có điều kiện tạo mức sống tốt hơn cho lao động, đồng thời cũng tạo được niềm tin cho phía đối tác khi tiến hành ký kết các hợp đồng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động gia công xuất khẩu
Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015
Hướng dẫn trình bày luận án tiến sĩ
Sau đây CLB Luận văn xin hướng dẫn cách trình bày luận án tiến sĩ
1. VỀ BỐ CỤC CỦA MỘT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Số chương của mỗi Luận án tiến sĩ tùy thuộc vào từng chuyên ngành và đề tài cụ thể, nhưng thông thường bao gồm những phần và chương sau:
- LV-Phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
- LV- Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam đến năm 2020 | sản phẩm chè
- Bài báo khoa học và cách trình bày một bài báo khoa học
- Cách soạn powerpoint slide – Kỹ năng trình bày
- Nhận viết thuê luận án tiến sĩ chuyên nghiệp | viết thuê luận án tiến sĩ
– Lời cam đoan của tác giả
– Tóm tắt luận án
– Mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
– Tổng quan tình hình nghiên cứu, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài; nêu những vấn đề còn tồn tại; chỉ ra những vấn đề mà đề tài cần tập trung nghiên cứu, giải quyết.
– Cơ sở lý luận và giả thuyết khoa học: Trình bày các cơ sở lý thuyết, lý luận, giả thuyết khoa học đã được sử dụng trong Luận án.
– Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong luận án; việc xây dựng các mô hình quan niệm; việc thực nghiệm/ mô phỏng; Mô tả phương pháp thực nghiệm được dùng và những kịch bản xảy ra khi kiểm tra, thử nghiệm các mô hình quan niệm. .
– Kết quả nghiên cứu, phân tích và bàn luận kết quả nghiên cứu: Mô tả ngắn gọn các kết quả nghiên cứu, thực nghiệm. Phần bàn luận phải căn cứ vào các dữ liệu khoa học thu được trong quá trình nghiên cứu, thực nghiệm của đề tài hoặc đối chiếu với kết quả nghiên cứu, thực nghiệm của các tác giả khác thông qua các tài liệu tham khảo. Nêu bật lên những kết quả nghiên cứu mới của Luận án bằng các minh chứng cụ thể.
– Kết luận và kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo: Trình bày những kết quả mới của Luận án một cách ngắn gọn không có lời bàn và bình luận thêm. Đề xuất và kiến nghị những nghiên cứu tiếp theo từ kết quả của Luận án
– Danh mục công trình công bố của tác giả : Liệt kê các bài báo, công trình đã công bố của tác giả về nội dung của đề tài, theo trình tự thời gian công bố (theo tiêu chuẩn trích dẫn của IEEE).
– Danh mục tài liệu tham khảo: Chỉ bao gồm các tài liệu được trích dẫn, sử dụng và đề cập tới để sử dụng trong luận án tiến sĩ.
– Phụ lục.
2. VỀ CÁCH TRÌNH BÀY CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Luận án tiến sĩ phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, sạch sẽ, không được tẩy xóa, có đánh số trang, đánh số bảng biểu, hình vẽ, đồ thị. Tác giả Luận án cần có lời cam đoan danh dự về công trình khoa học này của mình. Luận án tiến sĩ cần đóng bìa cứng, in chữ nhũ.
2.1 Soạn thảo văn bản
Sử dụng kiểu chữ Times New Roman cỡ 13 của hệ soạn thảo Winword hoặc tương đương; mật độ chữ bình thường; không được nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ; dãn dòng đặt ở chế độ 1.5 lines; lề trên 3 cm; lề dưới 3cm; lề trái 3.5 cm; lề phải 2 cm. Số trang được đánh ở giữa, phía trên đầu mỗi trang giấy. Nếu có bảng biểu, hình vẽ trình bày theo chiều ngang khổ giấy thì đầu bảng là lề trái của trang, nhưng nên hạn chế trình bày theo cách này.
Luận án được in trên một mặt giấy trắng khổ A4 (210 x 297mm) và có số trang tối đa của LATS là 100 trang (khoảng 30.000 từ), không kể phụ lục. Trong đó trên 50% trình bày các kết quả nghiên cứu và biện luận của riêng NCS. Riêng đối với nhóm ngành quản lý LATS có thể có số trang tối đa là 200 trang, không kể phụ lục. Trường hợp số trang của phần phụ lục nhiều thì phụ lục được đóng thành cuốn riêng
2.2 Tiểu mục
Các tiểu mục của Luận án được trình bày và đánh số và nhóm chữ số, nhiều nhất gồm 4 chữ số với số thứ nhất chỉ số chương (ví dụ: 4.1.2.1 chỉ tiểu mục 1, nhóm tiểu mục 2, mục 1, chương 4). Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất 2 tiểu mục, nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1.1 mà không có tiểu mục 2.1.2 tiếp theo.
2.3 Bảng biểu, hình vẽ, phương trình
Việc đánh số bảng biểu, hình vẽ, phương trình phải gắn với số chương (ví dụ hình 3.4 có nghĩa là hình thứ 4 trong chương 3). Mọi bảng biểu, đồ thị lấy từ các nguồn khác phải được trích dẫn đầy đủ (ví dụ: nguồn Bộ tài chính 1996). Nguồn được trích dẫn phải được liệt kê chính xác trong danh mục tài liệu tham khảo. Đầu đề của bảng biểu ghi phía trên bảng, đầu đề của hình vẽ ghi phía dưới hình. Thông thường những bảng ngắn và đồ thị nhỏ phải đi liền với phần nội dung đề cập tới các bảng và đồ thị này ở lần thứ nhất. Các bảng dài có thể để ở những trang riêng nhưng cũng phải tiếp ngay theo phần nội dung đề cập tới bảng này ở lần đầu tiên.
Các bảng rộng vẫn nên trình bày theo chiều đứng dài 297 mm của trang giấy, chiều rộng của trang giấy có thể hơn 210 mm. Chú ý gấp trang giấy như gấp hình vẽ để giữ nguyên tờ giấy. Cách làm này cũng giúp để tránh bị đóng vào gáy của phần mép gấp bên trong hoặc xén rời mất phần mép gấp bên ngoài. Tuy nhiên nên hạn chế sử dụng các bảng quá rộng này.
Đối với những trang giấy có chiều đứng lớn hơn 297 mm (bản đồ, bản vẽ, CD . . .) có thể để trong một phong bì cứng đính bên trong bìa sau luận văn.
Các hình vẽ phải được vẽ sạch sẽ bằng mực đen để có thể sao chụp lại; có đánh số và ghi đầy đủ đầu đề; cỡ chữ phải bằng cỡ chữ sử dụng trong văn bản luận văn. Khi đề cập đến các bảng biểu hoặc hình vẽ phải nêu rõ số của hình và bảng biểu đó.
Việc trình bày phương trình toán học trên một dòng đơn hoặc dòng kép là tùy ý, tuy nhiên phải thống nhất trong toàn luận văn. Khi có ký hiệu mới xuất hiện lần đầu tiên thì phải có giải thích và đơn vị tính đi kèm ngay trong phương trình có ký hiệu đó. Nếu cần thiết, danh mục của tất cả các ký hiệu, chữ viết tắt và nghĩa của chúng cần được liệt kê và để ở phần đầu của luận văn. Tất cả các phương trình cần được đánh số và để trong ngoặc đơn đặt bên phía lề phải. Nếu một nhóm phương trình mang cùng một số thì những số này cũng được để trong ngoặc, hoặc mỗi phương trình trong nhóm phương trình (5.1) có thể được đánh số là (5.1.1), (5.1.2).
2.4 Viết tắt
Không lạm dụng việc viết tắt. Chỉ viết tắt những từ, cụm từ hoặc thuật ngữ được sử dụng nhiều lần trong luận văn. Không viết tắt những cụm từ dài, những mệnh đề hoặc những cụm từ ít xuất hiện. Nếu cần viết tắt những từ, thuật ngữ, tên các cơ quan, tổ chức . . . thì được viết tắt sau lần viết thứ nhất có kèm theo chữ viết tắt trong ngoặc đơn. Nếu có quá nhiều chữ viết tắt thì phải có bảng danh mục các chữ viết tắt (xếp theo thứ tự A, B, C) ở phần đầu luận văn.
2.5 Tài liệu tham khảo và cách trích dẫn
Mọi ý kiến, khái niệm có ý nghĩa, mang tính chất gợi ý không phải của riêng tác giả và mọi tham khảo khác phải được trích dẫn và chỉ rõ nguồn trong danh mục Tài liệu tham khảo của luận văn. Phải nêu rõ cả việc sử dụng những đề xuất hoặc kết quả của đồng tác giả. Nếu sử dụng tài liệu của người khác và của đồng tác giả (bảng biểu, hình vẽ, công thức, đồ thị, phương trình, ý tưởng…) mà không chú dẫn tác giả và nguồn tài liệu thì Luận án không được duyệt để bảo vệ.
Danh mục tài liệu tham khảo được trình bày theo thứ tự được trích dẫn trong luận án (theo tiêu chuẩn trích dẫn của IEEE). Tài liệu tham khảo bao gồm các tài liệu được trích dẫn, sử dụng và đề cập trong luận án.
Không trích dẫn những kiến thức phổ biến, mọi người đều biết tránh làm nặng nề phần tham khảo trích dẫn.
2.6 Phụ lục
Phần này bao gồm những nội dung cần thiết nhằm minh họa hoặc hỗ trợ cho nội dung Luận án như số liệu, biểu mẫu, tranh ảnh… nếu sử dụng những câu trả lời cho một bản câu hỏi thì bản câu hỏi mẫu này phải được đưa vào phần Phụ lục ở dạng nguyên bản đã dùng để điều tra, thăm dò ý kiến; không được tóm tắt hoặc sửa đổi. Các tính toán mẫu trình bày tóm tắt trong các biểu mẫu cũng cần nêu trong Phụ lục của Luận án. Phụ lục không được dày hơn phần chính của Luận án.
Phone : 0972.162.399
Mail : luanvanaz@gmail.com
Web: http://luanvanaz.com
Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015
Nhận viết thuê luận án tiến sĩ chuyên nghiệp
Nhận viết thuê luận án tiến sĩ chuyên nghiệp
Luận văn A-Z nhận tư vấn, hộ trợ, tư vấn viết thuê luận án tiên sĩ uy tín và chuyên nghiệp nhất hiện nay. Cam đoan giữ hoàn toàn bí mật thông tin của quý khách hàng
Luận Văn A-Z tiền thân là CLB Luận Văn là nơi tập trung của hơn 200 thành viên ưu tú đã tốt nghiệp Đại học, Cao học, MBA suất sắc tại các trường hàng đầu cũng như các giảng viên của các trường đại học lớn. Chúng tôi nhận làm trọn góidịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận án tiến sĩ uy tín – chất lượng nhất hiện nay.
Chúng tôi chuyên nhận viết thuê luận án tiến sĩ, viết thuê luận văn thạc sĩ hoặc viết thuê luận văn cao học bằng các thứ tiếng như Việt, Anh, Pháp, Trung,… với chất lượng vượt trội.
Dịch vụ viết luận án tiến sĩ của chúng tôi cam kết:
– Đảm bảo quá trình viết luận án tiến sĩ của các bạn không trùng lặp về nội dung với bất cứ đề tài nào khác.
– Cam đoan không copy sao chép, viết luận án tiến sĩ của người khác.
– Luận văn có bố cục chuẩn, phù hợp với nội dung của một luận án tiến sĩ.
– Ngoài ra chúng tôi hỗ trợ tư vấn chọn đề tài luận án tiến sĩ phù hợp.
– Những đóng góp mới có giá trị về thực tiễn đối với đề tài.
– Hỗ trợ viết báo đăng lên các tạp chí nghiên cứu
– Đảm bảo và cam kết chất lượng cả về hình thức và nội dung của luận văn án tiến sĩ.
– Luận văn A-Z cam đoan giữ hoàn toàn bí mật thông tin của quý khách hàng.
Bạn có thể hoàn toàn yên tâm gửi trọn niềm tin khi cần hỗ trợ, viết thuê luận án tiến sĩ viết thuê luận văn thạc sĩ hoặc viết thuê luận văn cao học cho CLB Luận văn.
Bạn vui lòng gửi thông tin về đề tài luận án tiến sĩ của bạn bao gồm tên đề tài, đề cương của đề tài, ngôn ngữ viết, các tài liệu liên quan, thời hạn cần hoàn thành đề tài và số điện thoại của các bạn (để chúng tôi có thể liên hệ trực tiếp với các bạn khi cần)
Để biết thêm chi tiết về dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ chuyên nghiệp vui lòng liên hệ:
Hotline: 0128.5817.839 (Mr.Luân)
Web: www.luanvanaz.com
Email : clbluanvan@yahoo.com
Nhận viết thuê luận án tiến sĩ chuyên nghiệp
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)