Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2015

Bệnh viện công đầu tiên hoàn tất IPO

Bệnh viện Giao thông Vận tải Trung ương đã bán hết 5 triệu cổ phần trong phiên phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO).
Bệnh viện Giao thông vận tải sẽ niêm yết trên sàn chứng khoán
Theo thông tin từ Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), phiên bán đấu giá đầu tiên một bệnh viện công lập Việt Nam đã thu hút 33 nhà đầu tư với khối lượng đặt mua đạt hơn 11,7 triệu cổ phần, gấp 2,4 lần so với khối lượng chào bán. Trong đó, có nhà đầu tư sẵn sàng đặt mua toàn bộ khối lượng đưa ra, tương ứng 29,5% vốn điều lệ bệnh viện và có nhà đầu tư trả giá cao gấp 2,6 lần so với giá khởi điểm, đạt 26.000 đồng một cổ phần.

Theo đó, Bệnh viện Giao thông vận tải đã bán hết 100% số cổ phần đưa ra chào bán cho một nhà đầu tư cá nhân và một nhà đầu tư tổ chức với giá đấu thành công bình quân là 23.597 đồng, giá đấu thành công cao nhất là 26.000 đồng. Theo HNX, đây là mức giá thành công cao nhất trong vòng 2 tháng trở lại đây.

Tổng giá trị cổ phần bán được đạt hơn 116,8 tỷ đồng, cao hơn mức giá khởi điểm 67,3 tỷ đồng.

Bệnh viện Giao thông vận tải là đơn vị hàng đầu của y tế ngành giao thông, hiện quản lý 363 giường với năng lực cung cấp gần 500.000 lượt khám bệnh và gần 11.000 lượt điều trị nội trú hàng năm. Sau khi IPO, Nhà nước dự kiến nắm giữ 30% vốn điều lệ bệnh viện, nhà đầu tư chiến lược nắm 30%, người lao động nắm 10,5% và cổ đông bên ngoài là 29,5%.

Huyền Thư

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Quảng Bình: Khởi tố hai bảo mẫu trói chân tay trẻ hơn 14 tháng tuổi

Quảng Bình: Khởi tố hai bảo mẫu trói chân tay trẻ hơn 14 tháng tuổi

Sáng 9/10, Đại tá Trần Sơn, Trưởng Công an TP Đồng Hới cho biết, đơn vị vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với hai bảo mẫu Lê Thị Hoài Linh và Nguyễn Tú Anh.

Hai bảo mẫu Lê Thị Hoài Linh (SN 1993, quê ở Quảng Trị; đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Bắc Lý, TP Đồng Hới) và Nguyễn Tú Anh (SN 1993, ở thị trấn Nông trường Việt Trung, huyện Bố Trạch, Quảng Bình) đã có hành vi đối xử tàn ác đối với cháu Cù Hoàng Phi L. (học lớp mầm 1, điểm giữ trẻ Mầm non Sơn Ca, số 96, đường Hữu Nghị, TP Đồng Hới).

Theo đó, căn cứ điều 34 và điều 126, Bộ luật tố tụng Hình sự, Cơ quan CSĐT, Công an TP Đồng Hới quyết định khởi tố bị can đối với Lê Thị Hoài Linh và Nguyễn Tú Anh về tội “hành hạ người khác”.

Trước đó, như Dân trí đã liên tục cập nhật thông tin vụ việc cháu Cù Hoàng Phi L., bị cô nuôi dạy trẻ cơ sở Mầm non Sơn Ca đưa vào góc phòng dùng thìa inox đánh vào chân, tay, nhét giẻ vào miệng. Tiếp đó, cô nuôi còn lấy dây buộc chặt hai tay và hai chân của cháu ra đằng sau rồi dùng chân đè cháu xuống sàn nhà...

Liên quan đến vụ việc, trước đó, chiều 8/10, UBND TP Đồng Hới cũng đã ra quyết định xử phạt hành chính 22,5 triệu đồng đối với bà Trần Thị Thuý Hằng, chủ cơ sở Mầm non Sơn Ca vì tự ý thành lập cơ sở giáo dục mầm non và tổ chức hoạt động giáo dục khi chưa được phép hoạt động.

Ngoài ra, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả bà Trần Thị Thúy Hằng phải giải thể cơ sở Mầm non Sơn Ca, trả lại kinh phí cho phụ huynh đã gửi trẻ tại cơ sở (nếu có).

Đặng Tài

Tân sinh viên Y khoa bị buộc tạm thôi học sau… 1 tháng nhập học

Tân sinh viên Y khoa bị buộc tạm thôi học sau… 1 tháng nhập học

Hân hoan với niềm vui đỗ vào ĐH Y Dược Huế (Đại học Huế) chưa được bao lâu thì em Nguyễn Xuân Anh Tuấn ngỡ ngàng khi bị buộc tạm thôi học vì... không đủ điểm đậu.

Lại nghịch cảnh từ đậu thành rớt

Em Nguyễn Xuân Anh Tuấn (học sinh trường PT chuyên Lê Khiết, Quảng Ngãi) có với kết quả thi khối B đạt 25,75 điểm (Toán 8,75; Hóa 8,5; Sinh 8,5) và được cộng thêm 0,5 điểm vùng, 1 điểm xét theo đối tượng ưu tiên 06 được quy định tại Nghị định 31/2013/NĐCP.

Như vậy, với số điểm 27,25, em Tuấn đã trúng tuyển NV1 vào ngành Y Đa Khoa của Đại học Y Dược Huế (thuộc Đại học Huế) với điểm chuẩn là 26,5. Bên cạnh đó, kết quả thi khối A của em cũng khá cao với số điểm 25,25 (chưa cộng điểm ưu tiên).

Sau khi hoàn tất các thủ tục nộp hồ sơ theo quy định và không phát hiện thấy sai sót, em Tuấn đã đóng đầy đủ các khoản phí, học phí theo quy định chung để bắt đầu nhập học được 1 tháng.

Tuy nhiên, vào ngày 5/10 vừa qua, sau khi thanh kiểm tra lại hồ sơ, Trường ĐH Y Dược Huế (Đại học Huế) đã quyết định cho em Tuấn tạm thôi học vì đã khai không đúng trong hồ sơ. Cụ thể em đã khai sai về đối tượng ưu tiên, dẫn đến không được cộng 1 điểm ưu tiên. Như vậy, em Tuấn chỉ đạt 26,25 điểm nên không đủ điểm đậu vào ngành này.

Bị sốc sau khi nhận quyết định trên, sau 1 ngày em Tuấn mới dám gọi điện về quê để thông báo cho người thân. Ngay lập tức, ba em là Nguyễn Xuân Bắc cùng chú ruột đã tức tốc có mặt tại Huế để nắm bắt tình hình và gặp các báo để xin được giúp đỡ.

Thí sinh không hề cố tình khai man


Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Xuân Bách (sinh năm 1965, cha em Tuấn) cho biết: “Tôi từng tham gia nghĩa vụ bảo vệ quốc tế tại Campuchia, sau khi xuất ngũ thì được trao tặng Huân chương chiến công hạng Ba và Quyết định trợ cấp 1 lần của quân khu V đoàn 556.

Khi cháu Tuấn được nhà trường hướng dẫn làm hồ sơ, tại mục Đối tượng ưu tiên, thầy bảo cháu điền vào vì dựa theo Mục 10 của Nghị định 31 cháu được vào nhóm Đối tượng ưu tiên 06”.


Ông Bách còn chia sẻ vì thấy cá nhân mình từng tham gia phục vụ quân đội và làm nghĩa vụ quốc tế đã được công nhận bằng Huân chương chiến công và Quyết định trợ cấp 1 lần nên đã để cho cháu điền vào nhóm đối tượng này.

Cho đến khi em Tuấn nhận được giấy báo trúng tuyển từ Đại học Huế và đến trường ngày đầu tiên để làm thủ tục, hồ sơ của em đều được xét duyệt mà không phát hiện thấy sai phạm.

Trong hồ sơ Tuấn nộp để được hưởng ưu tiên có bản sao công chứng Huân chương chiến công hạng 3 và Giấy quyết định trợ cấp 1 lần của cha mình. Tuy nhiên theo điều 49 tại Nghị định 31 về Hồ sơ hưởng chế độ ưu đãi phải bao gồm: “1. Giấy tờ chứng minh đã được khen tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huân chương Chiến thắng, Huy chương Kháng chiến hoặc Huy chương Chiến thắng. 2. Quyết định trợ cấp một lần của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội”.

Như vậy theo quy chế, hồ sơ của em Tuấn chưa đáp ứng đủ điều kiện để được hưởng chế độ ưu đãi ở Nghị định 31 mà cụ thể là nhóm đối tượng 06.  Nhưng khác với những trường hợp thí sinh trước đây được phát hiện kịp thời nên đã thay đổi nguyện vọng hoặc chuyển xuống ngành thấp hơn, hiện nay cơ hội thay đổi nguyện vọng của em Tuấn không còn.
 
Ba em Tuấn nghẹn ngào: “Giá như sai sót này được phát hiện kịp thời ngay từ đầu, cháu Tuấn sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn với các ngành khác thấp điểm hơn hoặc có thể chuyển sang các ngành khối A với Đại học Bách khoa, hay Ngoại thương. Nhưng bây giờ thì hết rồi, ước mơ làm bác sĩ của cháu đã không còn!”.

Mong chờ một phương án xử lý nhân văn

Đại diện Ban công tác tuyển sinh Đại học Huế cho biết: “Trước hết cần khẳng định rõ sai phạm thuộc về phía thí sinh, khi em và gia đình đã không tìm hiểu rõ nội dung của Nghị định 31 về Đối tượng ưu tiên nên thí sinh hoàn toàn chịu trách nhiệm với việc khai báo trong hồ sơ của mình. Bên cạnh đó, việc nhà trường tiến hành thanh, kiểm tra lại hồ sơ của sinh viên trong quá trình học cũng hoàn toàn đúng với quy chế tuyển sinh”.


Theo PGS. TS Lê Văn Anh, Phó Giám đốc Đại học Huế kết luận, em Tuấn đã không đủ điều kiện để tiếp tục học Y Đa Khoa - ĐH Y Dược Huế. Tuy nhiên, nhận thấy đây là trường hợp cũng giống như các trường hợp có sai sót trong hồ sơ trước đó, phía Hội đồng tuyển sinh ĐH Huế đã tổ chức nhóm họp và đưa ra quyết định sẽ xử lý cho em Tuấn được chuyển đổi nguyện vọng xuống ngành thấp hơn còn thừa chỉ tiêu giống như những trường hợp trước đó. Nếu sau ngày mai (10/10), em Tuấn không làm đơn xin chuyển ngành học thì sẽ không được khiếu nại gì nữa.

Đây cũng là bài học quý giá để phụ huynh và thí sinh cẩn thận hơn trong việc làm hồ sơ dự thi cũng như công tác quản lý, kiểm duyệt hồ sơ đầu vào ở các trường Đại học cần phải được thắt chặt trong năm tới.

Thành Nhân - Đại Dương

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Khái niệm hội tụ kế toán quốc tế

 Khái niệm hội tụ kế toán quốc tế

Như đã trình bày trong phần lược sử quá trình hội tụ kế toán quốc tế, khái niệm “hội tụ” (convergence) lần đầu tiên được IASC đề cập đến trong Báo cáo chiến lược của mình năm 1998 (IASC, 1998c) và sau đó được khẳng định trong Hiến chương của IASB như một mục tiêu của tổ chức này (IASC Foundation, 2010). Có hai cách giải thích hiện nay về khái niệm hội tụ:

- Trong cách thứ nhất, hội tụ được hiểu là quá trình phát triển hướng đến một hệ thống chuẩn mực kế toán toàn cầu chất lượng cao. Herz & Petrone (2005) nhìn nhận hội tụ là quá trình mà tiền thân là “hòa hợp” rồi “quốc tế hóa” đến nay là “hội tụ”. Hội tụ kế toán quốc tế nhằm thiết lập chuẩn mực
chất lượng cao để cải thiện so sánh phạm vi quốc tế về thông tin tài chính, giảm chi phí cho người sử dụng, nhà đầu tư, kiểm toán nhằm phát triển thị trường vốn toàn cầu. Zeff (2007) cho rằng ban đầu IASC đã sử dụng khái niệm hòa hợp nhưng ngày nay IASB đã sử dụng khái niệm hội tụ nhằm gia
tăng tính so sánh thông tin trên báo cáo tài chính và hướng đến một bộ tiêu chuẩn có chất lượng cao hơn. Zhang & Qu (2010) cho rằng hội tụ là hướng đến một điểm duy nhất để đạt sự thống nhất chung. Việc phát triển chuẩn mực của IASB là sự chuyển đổi từ hòa hợp sang hội tụ. Hội tụ được xem như là quá trình “tiêu chuẩn hóa” chuẩn mực. Hòa hợp và hội tụ không đối lập với nhau, cả hai thuật ngữ này phản ánh quá trình phát triển của chuẩn mực kế toán ở những mức độ khác nhau.

- Trong cách hiểu thứ hai, Bader (2009) và một số tác giả sử dụng thuật ngữ “hội tụ” như một chọn lựa để hội nhập quốc tế về kế toán, là áp dụng toàn bộ chuẩn mực quốc tế (adoption).

Trong nghiên cứu này, luận án sử dụng khái niệm hội tụ theo cách hiểu thứ nhất. Theo đó, hội tụ kế toán quốc tế là việc đi đến một hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thông tin ra quyết định trên thị trường vốn và các yêu cầu khác của nền kinh tế. Quá trình hội tụ kế toán quốc tế gắn với vai trò của Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế. Quá trình hội tụ không chỉ bao gồm giai đoạn từ năm 2001 khi IASB được hình thành mà bao gồm cả giai đoạn tạo tiền đề với vai trò quan trọng của IASC.

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Hệ thống chuyển tiền điện tử

Hệ thống chuyển tiền điện tử


Hệ thống chuyển tiền điện tử là một hệ thống thanh toán nội bộ ngân hàng trung ương, được áp dụng từ năm 1998 để đáp ứng nhu cầu của các tỉnh, thành phố chuyển tiền của ngân hàng trung ương khác cũng như các ngân hàng thông qua các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước. Hệ thống chuyển tiền điện tử đã thay thế các hệ thống tập tin thông thường trả trước giúp tăng cường bảo mật và tăng tốc độ thanh toán, đáp ứng nhu cầu chuyển tiền đến các tỉnh, thành phố trực thuộc khác địa bàn cho tất cả các ngân hàng.

Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử
Điện tử liên ngân hàng giao dịch thanh toán
Sự phát triển của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam
Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý hoạt động thanh toán
Với chức năng chủ yếu là thực hiện chuyển giao vốn và các tỉnh khác phải trả cho tín dụng, ngoài việc chuyển tiền giữa các quỹ hoạt động của ngân hàng trung ương, trong khi các mặt hàng thanh toán chuyển tiếp đều có doanh số rất lớn. Đến cuối tháng 10/2008 (trước khi triển khai hệ thống IBEP giai đoạn II), hệ điều hành ổn định, an toàn, kết nối toàn bộ 68 đơn vị SB đơn vị phục vụ cho hơn 690 tổ chức tín dụng mở tài khoản tại các đơn vị ngân hàng trung ương, khối lượng giao dịch trong năm 2008 là 890 346 giao dịch, đạt 2.023.990 tỷ đồng, chiếm khoảng 9,5% tổng giá trị thanh toán được xử lý bằng phương pháp điện tử (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động thanh toán trong các tỉnh của 63 chi nhánh của Ngân hàng Nhà nước). Kể từ đầu năm 2009, hệ thống chuyển tiền điện tử đã được thay thế và vai trò dự phòng cho hệ thống IBEP (năm 2009 tạo ra 24 mặt hàng có giá trị chuyển tiền 28 561.000.000.000).

Tất cả dữ liệu chuyển khoản điện tử đã được hoàn thành trong năm 2009 ngay trong tháng 01/2010; Trong năm 2010, không có doanh thu của hệ thống chuyển tiền EMT. Mặt khác, từ tháng 01/2009, tất cả các đơn vị của hệ thống với các ngân hàng trung ương để tham gia vào việc chuyển tiền thanh toán điện tử đã được tham gia trực tiếp trong hệ thống chuyển tiền IBEP. Do đó, Ngân hàng Nhà nước cần khẩn trương nghiên cứu, hướng dẫn bằng văn bản, xử lý các vấn đề liên quan đến hệ thống chuyển tiền điện tử.

Hệ thống chuyển tiền điện tử

Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử

Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử


Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử bắt đầu từ tháng 5/2002, sau sáu năm thực hiện, đến tháng 6/2008, thanh toán bù trừ điện tử đã được triển khai rộng rãi trong cả nước (trừ số 5 tỉnh đã triển khai các hệ thống IBEP Giai đoạn I: Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Thành phố Minh, Cần Thơ và Đà Nẵng). Trên địa bàn tỉnh, các hệ thống thanh toán bù trừ điện tử thành phố bởi các chi nhánh ngân hàng trung ương trên địa bàn tỉnh tổ chức, quản lý và điều hành. Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử thực hiện các chức năng xử lý và giải quyết thanh toán bù trừ giao dịch thanh toán điện tử liên ngân hàng giữa các ngân hàng thành viên tham gia tỉnh BTDT, thành phố (bao gồm giao dịch giá trị thấp <500 pg, giá trị cao> = 500 pg, trừ các giao dịch có giá trị cao> = 500 pg di chuyển ra khỏi địa bàn tỉnh).

Điện tử liên ngân hàng giao dịch thanh toán
Sự phát triển của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam
Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý hoạt động thanh toán
Một số điểm nổi bật của hoạt động thanh toán trong Khối thịnh vượng chung của Úc
Khác tiểu hệ thống với giá trị thấp IBEP, hệ thống thanh toán bù trừ điện tử chỉ thực hiện chuyển tiếp các lệnh thanh toán cho ngân hàng sau khi được điều trị tại một giải quyết thanh toán bù trừ phiên (thường là 2-3 buổi / ngày), do đó hệ thống thanh toán bù trừ là rất an toàn, chắc chắn trong việc giải quyết .

Xem thêm: điện tử liên ngân hàng giao dịch thanh toán
Theo số liệu báo cáo của các đơn vị đã được triển khai vào cuối năm 2010, toàn hệ thống thanh toán bù trừ điện tử có khoảng 950 thành viên (mỗi mỗi tỉnh, thành phố có khoảng 15-20 thành viên) lên 18 và 4% so với năm 2009 (trong Ngoài hơn 230 thành viên biểu diễn các Bù giấy tại 5 địa phương đã đề cập ở trên), với khối lượng giao dịch trong năm 2010 là 9,5 triệu giao dịch, đạt 2.444.827 tỷ đồng, tăng khoảng 48% số lượng giao dịch và tăng gần 95% về giá trị giao dịch so với năm 2009 (Nguồn: Báo cáo về các hoạt động của 63 chi trả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước - nước tổng hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Trên địa bàn tỉnh, thành phố đã thực hiện thanh toán bù trừ điện tử, thanh toán bù trừ điện tử đã hoàn toàn thay thế các phương pháp thanh toán bù trừ giấy thủ công. Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử với hệ thống thanh toán khác (hệ thống chuyển tiền điện tử, hệ thống IBEP) đã tạo ra một mạng lưới thanh toán điện tử qua hầu hết các đơn vị trong khu vực của tỉnh TCCUDVTT thành trong cả nước. Kể từ khi triển khai đến nay, hệ thống đang hoạt động tốt, ổn định, an toàn và hiệu quả; tiết kiệm chi phí, thời gian và lao động trực tiếp; Nâng cao hiệu quả của vốn của Ngân hàng, tín dụng trên địa bàn. Hầu hết các thành viên trong quá trình tuân thủ và đảm bảo khả năng thanh toán.

Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử

Điện tử liên ngân hàng giao dịch thanh toán

Điện tử liên ngân hàng giao dịch thanh toán


Hiện nay, các giao dịch liên ngân hàng thanh toán điện tử được xử lý chủ yếu thông qua hệ thống thanh toán sau đây:

Một là: Hệ thống thanh toán của các tổ chức và quản lý ngân hàng trung ương (hệ thống thông qua các tài khoản tiền gửi, các hệ thống thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử liên ngân hàng hệ thống).

Sự phát triển của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam
Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý hoạt động thanh toán
Một số điểm nổi bật của hoạt động thanh toán trong Khối thịnh vượng chung của Úc
Một số điểm nổi bật của hoạt động thanh toán trong Liên bang Canada
Thứ hai: Các hệ thống thanh toán song phương của một số ngân hàng có tổ chức.

Thứ ba: Các giao dịch chủ yếu là các giao dịch thẻ tự động nhỏ, được xử lý qua hệ thống chuyển mạch thẻ của các công ty chuyển mạch thẻ (Banknetvn, Smartlink và VNBC) tổ chức.

Xem thêm: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý hoạt động thanh toán
Qua giám sát và tổng hợp các dịch vụ thanh toán SB - TW là: Theo số liệu thống kê thương mại của các khoản thanh toán không dùng tiền mặt trong năm 2010, thị phần của các giao dịch thanh toán qua ngân hàng trung ương (thanh toán bù trừ và thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng trung ương) chiếm 7,7% mặt hàng, 25% giá trị giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt và cổ phiếu của các giao dịch thanh toán song phương chiếm khoảng 7,4% của các món ăn, giá trị 10,6%.

Theo đánh giá trong Báo cáo về hoạt động thanh toán của đơn vị SB, đánh giá của Cục Công nghệ Thông tin, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, Sở Tài chính - Kế toán, hiện nay các hệ thống thanh toán là ngân hàng trung ương đã tổ chức điều hành và quản lý ổn định, an toàn phát huy hiệu quả, phục vụ tốt hơn trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán.

Điện tử liên ngân hàng giao dịch thanh toán

Sự phát triển của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam

Sự phát triển của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam

Các dịch vụ thanh toán Tổ chức cung cấp tại Việt Nam bao gồm:

- Ngân hàng Trung ương (NHNN)

Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt và các dịch vụ thanh toán
Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý hoạt động thanh toán
Một số điểm nổi bật của hoạt động thanh toán trong Khối thịnh vượng chung của Úc
Một số điểm nổi bật của hoạt động thanh toán trong Liên bang Canada
- Các ngân hàng được thành lập và hoạt động theo pháp luật của tổ chức tín dụng, bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.

- Quỹ tín dụng nhân dân trung ương.

- Các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước như dịch vụ thanh toán.

- Các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được cấp phép bởi Ngân hàng Nhà nước như dịch vụ thanh toán.

Trong thực tế khi thực hiện hoạt động thanh toán chỉ có hai cấp: Ngân hàng Nhà nước có một tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán cả việc quản lý nhà nước về hoạt động thanh toán. Hai ngân hàng là các tổ chức tín dụng không phải là ngân hàng hoặc các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được NHNN cho phép thực hiện các khoản thanh toán, ngân hàng và các tổ chức hoạt động theo quy định của pháp luật dưới sự chỉ đạo và quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Kể từ khi pháp lệnh về ngân hàng nhà nước và pháp lệnh ngân hàng, tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán qua rất nhiều thử nghiệm cho đến nay có thể khẳng định phát triển nhanh chóng, đặc biệt là trong những năm của nước ta chuẩn bị gia nhập WTO và sau khi gia nhập WTO để phát triển có thể trình bày về số lượng và chất lượng như sau:

Xem thêm: Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
a) Xây dựng định lượng

Có thể thực hiện pháp lệnh 5/1990, Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành xem xét, tổ chức, xem xét các điều kiện và đánh giá kế hoạch, điều lệ các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tự nguyện xin được phép hoạt động cấp phép và quản lý hoạt động.

Đến cuối tháng 12/1995, hệ thống ngân hàng của Việt Nam bao gồm: [46, 285]

- Ngân hàng Trung ương (NHNN) có trụ sở trung ương tại Hà Nội và 53 chi nhánh tại các tỉnh.

- Ngân hàng thương mại và công ty tài chính có:

+ 4 ngân hàng quốc doanh (NHTM NN);

+ Ngân hàng thương mại 50 cổ phần với hàng trăm chi nhánh trên toàn quốc (31Ngan các ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và 15 cổ phần nông thôn);

+ 2 cổ phiếu công ty tài chính;

Ngân hàng liên doanh + 4;

+ 19 chi nhánh ngân hàng nước ngoài

- Các hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và các quỹ tín dụng khu vực 3 cơ sở, các quỹ tín dụng, một trong những trung tâm.

+ 576 quỹ tín dụng và quỹ tín dụng nhân dân cơ sở khu vực 3, 1 quỹ tín dụng Trung ương.

+ 64 hợp tác xã tín dụng.

Ngoài ra, có 67 văn phòng đại diện của các ngân hàng và công ty tài chính của 21 quốc gia đang hoạt động tại nước ta.

Sau một thời gian hoạt động của Ngân hàng phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của các nước xã hội chủ nghĩa theo định hướng với tác động của hội nhập kinh tế và danh mục đầu tư xu thế toàn cầu hóa của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng cũng có nhiều thay đổi theo xu hướng: một số tổ chức tín dụng trong cạnh tranh không đứng vững sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực trong những năm 1997 - 1998 và những khó khăn tín dụng tại các nước như Việt Nam Hoa Ngân hàng hoặc sáp nhập vào các ngân hàng thương mại lớn như các ngân hàng châu Á Thái Bình Dương sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, ... và cũng khởi động chung hơn ngân hàng cổ không phải là ngân hàng cổ phần tại ít nhất có vốn đầu tư nước ngoài khi các ngân hàng quốc tế, một số liên doanh hợp nhất ngân hàng thương mại trở nên đủ lớn để làm việc. Một số ngân hàng CP chuyển từ nông thôn đến thành thị là NHTMCP NHTMCP An Bình, ... đã làm phong phú thêm danh sách các biểu mẫu và sơ đồ của hệ thống ngân hàng và
các ngân hàng ở nước ta.

By 06 Tháng sáu 2011 hệ thống ngân hàng và tín dụng ở nước ta bao gồm: [47]

- Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng) với 63 chi nhánh và 03 đơn vị của Ngân hàng tham gia thanh toán.

- Ngân hàng thương mại 05 nước (trong đó có 2 được cổ phần hóa ngân hàng).

- 01 Ngân hàng Phát triển.

- 01 Ngân hàng Chính sách xã hội.

- 05 ngân hàng liên doanh với nước ngoài.

- 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

- 37 Ngân hàng TNHH cổ phần (bao gồm cả mới thành lập, sáp nhập, ...)

- 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (của 30 quốc gia trên thế giới).

- 09 công ty tài chính.

- 12 công ty cho thuê tài chính.

- Quỹ tín dụng nhân dân trung ương 01 bao gồm 24 chi nhánh khu vực.

- Cơ sở quỹ tín dụng 996 nhân dân.

Ngoài ra, có 51 văn phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam như là một cầu nối cho các hoạt động đầu tư, dịch vụ tài chính, tiền tệ của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Nam.

Xu hướng thành lập trong những năm qua ngân hàng mới 2006 - 2010: Dự báo trong những năm tới, các ngân hàng vẫn tiếp tục hoạt động trong một tích cực hơn, nhưng sự cạnh tranh và hợp tác trong hoạt động ngân hàng - tiền tệ cũng phát triển mạnh mẽ. Nhiều ngân hàng cổ phần, ngân hàng 100% vốn và các chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài nước ngoài thành lập mới, mở rộng mạng lưới, quy mô và chất lượng nguồn nhân lực tiếp tục được nâng lên một bước mới.

b) Phát triển của cổ phiếu ngân hàng thương mại chất lượng

Trong những năm gần đây (2008 - 2009) với ít nhất 15 thành lập mới ngân hàng CP vận hành tổng cộng 30 bộ hồ sơ đã nộp cho ngân hàng trung ương.

Vốn mà các ngân hàng CP Liên hệ với Việt Nam có vốn điều lệ đồng 3.300 tỷ đồng với cổ đông sáng lập của Công ty TNHH Him Lam, Công ty Southern Air Transport, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, thủ đô của các ngân hàng thương mại FPT CP 1.000 tỷ đồng điều lệ với các cổ đông sáng lập của tái bảo hiểm quốc gia Công ty Cổ phần đầu tư và công nghệ phát triển Tổng công ty FPT, VMS MobiFone, ... NHTM CP Dầu khí vốn điều lệ 5.000 tỷ đồng với cổ đông sáng lập Tập đoàn Dầu khí, Tổng công ty Việt Nam Airlines, các ngân hàng CP Quốc Tế - VIB, và các ngân hàng CP Bảo Việt Nam có vốn điều lệ vốn 1.500 tỷ đồng với cổ đông sáng lập là Bảo Việt Nam góp 40%, Vinamilk, Sea Bank. Năng lượng NHTM do các cổ đông sáng lập của Công ty Cổ phần Lilama Xây dựng Sông Đà, than và khoáng sản nhóm. Châu Á cổ phiếu các ngân hàng thương mại của Vietcombank và một số doanh nghiệp thành lập khác. TMCP Tin chứng khoán Đông Dương của các ngân hàng Quân đội CP và một số doanh nghiệp quốc phòng vào
lên. Cổ phần Bảo Tín của Habubank và một số doanh nghiệp thành lập khác.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Stars do một số doanh nghiệp cũng góp vốn thành lập. Đặc biệt với 03 chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong hoạt động, đó là Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc, Bank of Australia và Comommwealth Taipei Fubon Bank của Đài Loan và khoảng 03 ngân hàng 100% vốn nước ngoài chính thức ra mắt trên thị trường tài chính thị trường - tiền tệ của Việt Nam.

Ngân hàng Công thương Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong những cổ phiếu IPO hoàn thành bước đầu tiên của việc cổ phần hóa ngân hàng trong năm 2008. Các quy định đối với chứng khoán vốn vay sẽ có cơ chế kiểm soát mỗi. Nhiều sản phẩm mới và dịch vụ ngân hàng tiện ích tiếp tục được các ngân hàng thương mại để cạnh tranh thị trường.

Các ngân hàng thương mại cổ tiếp tục được coi là Blue Chips hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Một số ngân hàng nước ngoài vẫn tiếp tục mua cổ phần trở thành đối tác chiến lược của một số ngân hàng cổ phần tại Việt Nam. Nguồn nhân lực cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ - ngân hàng một nơi năng động hơn. Hoạt động ngân hàng thương mại cạnh tranh mạnh mẽ hơn đó là tốt cho nền kinh tế tăng trưởng và cung cấp nhiều cơ hội cho sự lựa chọn của khách hàng, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề cho quản lý rủi ro ở cả hai góc của quản lý nhà nước và quản trị của từng ngân hàng.

Sự phát triển của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam

Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam


1. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam trước cách mạng tháng 8-1945

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một thuộc địa nửa phong kiến dưới sự cai trị của người Pháp. Hệ thống tiền tệ, tín dụng được thành lập và hoạt động chủ yếu là cho chính sách thuộc địa của nước Pháp ở Việt Nam. Trong thời thuộc địa, sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ, tín dụng được sắp xếp bởi Chính phủ Pháp, chính phủ của Đông Dương thông qua Ngân hàng Đông Dương đã được thực hiện.

Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng của Việt Nam
Phát triển công nghệ hệ thống ngân hàng thương mại
Các giải pháp để cải thiện hệ thống ngân hàng khả năng tài chính
Phát triển nguồn nhân lực hệ thống ngân hàng
Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng của Việt Nam
Trong số các cổ đông của Ngân hàng Đông Dương, Indo Chính phủ nắm giữ 20% cổ phần (như năm 1931) và lên đến 50% cổ phần trong sức mạnh của những người của Nhà nước Pháp. Nhiều người trong giai cấp tư bản Pháp đã tổ chức một khối lớn cổ phần; Holy Roman và Tổng House cũng có cổ phần tại ngân hàng này. Ngoài ra, Ngân hàng cũng có cổ phần ở Đông Dương của tư bản Anh, Mỹ, Nhật Bản vv ...

2. Đối với chính quyền cách mạng của đồng tiền - tín dụng từ cuộc Cách mạng tháng Tám thành công

Trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lực lượng cách mạng đã không chiếm được Ngân hàng Đông Dương - đại lý độc quyền của Liên bang Đông Dương phát hành tiền là một trong những bất lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám:

"Nó chiếm được Ngân hàng Đông Dương để sau này chính quyền nhân dân đang rơi vào khó khăn tài chính gây ra bởi kẻ thù."

Một thời gian ngắn sau khi chính phủ giành 8/1945, Đảng và Chính phủ đã phát hành tiền để chăm sóc cho việc tạo ra một cơ sở tiền tệ độc lập, tự chủ của đất nước Bắc Việt Nam chuẩn bị phát hành tiền .Công Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính chịu trách nhiệm.

Các chính sách phát hành tiền đã được thực hiện một cách khẩn trương và bí mật. Chỉ trong một thời gian ngắn, "in 10/1945 cơ quan của tháng trước đã bắt đầu in tiền giấy đồng loại 5, đồng 10 và 20 đồng và nhôm dập rãnh tiền và loại 2 5 hào". Đầu tháng 12/1945, nhằm đúng lúc thị trường là những người sống sót lỏng và rách rưới khan hiếm Indochina tiền cản trở việc bán, trao đổi nội địa của đồng tiền đầu tiên Bắc Việt Nam phát động mang kinh tế, chính trị sâu sắc, phù hợp với nguyện vọng của người dân và được nhiệt liệt hoan nghênh.

Ngày 31-1-1946, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18 / B cho phép ghi chú phát hành cho Việt Nam trong khu vực Nam Trung Bộ, từ vĩ tuyến 16, bởi vì có nhiều thuận lợi hơn là, điều kiện kinh tế, chính trị tương đối ổn định, không có nghề nghiệp quân sự nước ngoài . Ở đây, "ở mọi nơi và ngày phát hành đầu tiên của tiền được tổ chức như một ngày hội lớn, các công cụ mở, mọi người đi ăn mừng tưng bừng đồng Việt Nam. Mọi người háo hức lấy thay đổi Indochina tiền giấy" bạc giấy Bác Hồ ". Chính phủ quy định 1 1, nhưng tin tưởng người dân hối đoái của đồng Việt Nam với $ 1 đồng Việt Nam tương đương với 1,2-1,3 đồng Đông Dương ".

Ngày 13-8-1946, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154 - SL, quyết định mở rộng các ghi chú phát hành cho Việt Nam đối với miền Bắc, miền Trung (từ vĩ tuyến 16). Đến tháng 11-1946, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam quyết định phát hành ghi chú cho Việt Nam ở trong nước.

Xem thêm: Sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng của Việt Nam
3. Ngân hàng trong giai đoạn 1951-1990

Đại hội Đảng lần thứ hai (tháng 2/1951) đã đề ra hướng dẫn mới về chính sách tài chính - kinh tế; trong khi chính sách tài khóa có nội dung cơ bản là: chính sách tài chính sẽ phải làm việc chặt chẽ với các chính sách kinh tế, tăng nguồn thu trên cơ sở thúc đẩy sự tăng sản xuất; giảm chi tiêu bằng cách tiết kiệm, chế độ thuế thực hiện dân chủ và quy định ngân sách trung ương, ngân sách địa phương; thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành đồng tiền mới để ổn định tiền tệ, cơ chế tín dụng được cải thiện.

Trên cơ sở đó, sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể được khái quát thành hai giai đoạn:

a) Giai đoạn 1951-1975

* Ở phía Bắc

Ngày 1951/06/05, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 15 / SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam quy định: "Tất cả các công việc của các tín dụng quốc gia Kho bạc Nha Nha và sản xuất chuyển giao cho Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã thực hiện hai chức năng khác nhau: là một trong những hoạt động của Kho bạc, các chức năng khác của Ngân hàng.

Năm 1960, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đã tổ chức một hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương, độc quyền và quản lý nhà nước. Hệ thống ngân hàng được tổ chức theo mô hình hệ thống Ngân hàng một cấp độ. Hệ thống này tiếp tục tồn tại cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (ngày 30 tháng 4 năm 1975) và đã qua các hệ thống ngân hàng trong các cựu Nam Sài Gòn cho đến năm 1988.

* Ở miền Nam

Ngày 31 tháng 12 năm 1954, Bảo Đại đã ký Quyết định số 48 thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở phía Nam. Từ năm 1954 đến năm 1975, hệ thống ngân hàng ở miền Nam Việt Nam đã được tổ chức theo mô hình của một ngân hàng tư bản chủ nghĩa, mà mô hình một hệ thống ngân hàng hai cấp, vì các nền kinh tế ở miền Nam trong giai đoạn này bao gồm Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và Ngân hàng
nghề.

b) Các giai đoạn 1975-1990

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài nước ngoài đã rút khỏi miền Nam Việt Nam. Nhà nước đã tiến hành quốc hữu hóa hệ thống ngân hàng của chế độ Sài Gòn, và cho việc tư nhân của ngân hàng nhà nước thanh lý tổ chức, bởi vì toàn bộ tài sản của ngân hàng được phân tán và chạy trốn ra nước ngoài. Nói chung, các ngân hàng lại không có khả năng chi trả, tổng số nợ cho người lớn hơn tài sản còn lại.

Đặc điểm của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 1975 - 1988 đã được tổ chức theo mô hình ngân hàng cấp, giống như mô hình ngân hàng từ 1951 - 1975 ở miền Bắc. Vị trí và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được xác định như sau:

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chỉ là một cơ quan ngang Bộ, đang chịu trách nhiệm quản lý của chính sách tiền tệ và tín dụng của nhà nước, mà còn là một tổ chức kinh doanh theo chế độ kế toán Kế hoạch kinh tế xã hội chủ nghĩa để phục vụ tổ chức và tính kinh tế của sản xuất và phát triển kinh doanh.

- Các chức năng chính của Ngân hàng Nhà nước phân phối tiền tệ và vốn của Việt Nam trong các hoạt động quản lý tiền mặt trong nền kinh tế.

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để thực hiện vai trò trung tâm của tiền mặt, trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán trong nền kinh tế quốc gia.

Như vậy, sau 30 năm, trải qua 02 cuộc chiến tranh giải phóng đất nước từ một trong những tín Nha của tín dụng đầu tiên của nước Việt Nam Bắc, thành lập năm 1947. Nó là tiền thân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với hệ thống các chi nhánh tỉnh, chi huyện gái điếm, đã từng tổ chức tín dụng lớn nhất và duy nhất trong nhiều thập kỷ. Các chức năng chính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế và dân cư để cho vay. Ngân hàng Nhà nước có các cơ quan quản lý tín dụng doanh nghiệp vừa và tiền tệ được tổ chức không vì lợi nhuận.

4. Hệ thống ngân hàng từ năm 1990

Hệ thống ngân hàng trong việc chuyển đổi theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam là đổi mới cơ bản về tổ chức và nội dung hoạt động, từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường với điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

Quá trình cải cách hệ thống có thể được chia thành các bước sau đây:

Bước Một: Quyết định số 07 / HĐBT ngày 04 Tháng 1 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng, nhiệm vụ quản lý quỹ chuyển nhượng của ngân sách Nhà nước và các nguồn dự trữ tài chính của Nhà nước từ Ngân hàng Nhà nước cho các tài chính, thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ tài chính.

Bước thứ hai: May 24, 1990, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ký sắc lệnh công bố hai pháp lệnh: một sắc lệnh rằng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; hai là Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 1990. Theo hai pháp lệnh này, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức gần như hệ thống ngân hàng tại các nước có nền kinh tế thị trường trên thế giới, tức là hệ thống ngân hàng hai cấp.

Bước thứ ba: 26 tháng 12 năm 1997 Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh công bố hai luật ngân hàng, đó là quy luật của Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng.

1 / Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, là cơ quan duy nhất phát hành tiền tệ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VN. Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân có trụ sở tại thủ đô Hà Nội, có các chi nhánh văn phòng nơi trong nước và đại diện cần thiết ở nước ngoài.

- Nhiệm vụ và quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước

Tham gia xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế chiến lược cho xã hội, chính sách liên quan đến việc áp dụng các hoạt động tiền tệ, dự án xây dựng pháp luật hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng.

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng, thực hiện và giám sát việc thực hiện pháp luật về thanh toán tín dụng tiền tệ, các ngân hàng nước ngoài.

Để chơi như một ngân hàng cho tổ chức tín dụng.

Áp dụng các biện pháp quản lý để đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc của hoạt động nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng.

Tổ chức in, đúc tiền bảo quản, dự trữ phát hành, hiệu suất của việc phát hành tiền và quản lý lưu thông tiền tệ.

Tiếp nhận và trả tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, cơ quan nước ngoài và các tổ chức quốc tế, vay ngân sách cần thiết. Đại lý của Kho bạc Nhà nước về việc phát hành trái phiếu ngắn hạn và dài hạn, trả nợ gốc và lãi của trái phiếu.

Quản lý nhà nước về ngoại hối, thành lập cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện các hoạt động trao đổi, mua bán ngoại hối trên thị trường quốc tế.

Bảo quản dự trữ nhà nước về ngoại hối.

Trực tiếp ký kết hoặc ủy quyền việc ký kết một hiệp ước quốc tế về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng.

Đại diện Chính phủ tại các tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế.

Thanh tra các tổ chức tín dụng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng.

Tổ chức tập huấn kỹ thuật trong hoạt động ngân hàng.

- Quan hệ giữa Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng.

Ngân hàng Nhà nước điều hành giấy phép cho tổ chức tín dụng, đảm bảo khả năng chi trả kịp thời, đầy đủ cho các tổ chức tín dụng.

Chiếm tiền gửi mở cho các tổ chức tín dụng; Các khoản cho vay và mua, chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng.

Chỉ trụ sở chính của tổ chức tín dụng không được trực tiếp vay vốn cho các chi nhánh của tổ chức tín dụng.

Tổ chức tín dụng bắt buộc duy trì: tiền gửi dự trữ pháp lý (yêu cầu tiền gửi dự trữ) và các nguồn khác của các khoản thanh toán tiền mặt sẵn sàng, tiền gửi và cho vay các khách hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định bởi pháp luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Luật số 01/97 / QH10 và Luật sửa đổi, bổ sung pháp luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Luật số 10/03 / QH11.

Tổ chức thanh toán bù trừ giữa các tổ chức tín dụng.

Phát hành và bán trái phiếu và các tổ chức hoạt động thị trường tiền tệ.

- Quan hệ với Kho bạc Ngân hàng Nhà nước.

Mở tài khoản giao dịch cho ngân khố.

Có thể tham khảo ý kiến của Bộ Tài chính làm đại lý cho Kho bạc Nhà nước về phát hành trái phiếu ngắn hạn và dài hạn, thanh toán lãi, vốn gốc trái phiếu trên.

Tham gia lập kế hoạch ngân sách nhà nước.

Ứng viên tiền, cho vay đối với Kho bạc Nhà nước, các tiến bộ và cho vay Kho bạc Nhà nước được bảo đảm bằng trái phiếu kho bạc do Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ có lợi nhuận sẽ liên lạc tới các nước Ngân hàng Nhà nước. Các trái phiếu có thời hạn tối đa theo quy định của Chính phủ và có thể được chuyển giao.

Ngân hàng có thể mua lại các trái phiếu kho bạc với thời gian không quá một năm kể từ tổ chức tín dụng hoặc bán lại các trái phiếu kho bạc cho tổ chức tín dụng.

Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổ chức thành một hệ thống tập trung, thống nhất của bộ máy điều hành và các hoạt động đơn vị tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị trực thuộc khác.

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước quy định của Chính phủ.

Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật Ngân hàng Nhà nước.

Ngân hàng Nhà nước Thống đốc quyết định thành lập, chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, các ủy ban, Hội đồng tư vấn về các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước; quyết định thành lập, chấm dứt hoạt động theo thẩm quyền của các đơn vị trực thuộc hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực đào tạo và đào tạo lại các dịch vụ ngân hàng, nghiên cứu, thông tin, ngân hàng lý luận khoa học, cung cấp các dịch vụ liên quan đến hoạt động ngân quỹ, dịch vụ công nghệ thông tin và thanh toán ngân hàng , dịch vụ thông tin tín dụng.

Theo văn bản hiện nay Ngân hàng Nhà nước bao gồm 18 phòng ban, chi nhánh 63 ngân hàng nước ngoài tại các tỉnh, thành phố, và các văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh, giúp Thống đốc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và các ngân hàng trung ương chức năng, 04 doanh và doanh nghiệp thuộc các đơn vị kinh doanh.

2 / Các tổ chức tín dụng

Các tổ chức tín dụng hiện nay đang thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm các ngân hàng, tổ chức tín dụng tổ chức tài chính vi mô phi ngân hàng và các quỹ tín dụng nhân dân [57].

Tổ chức tín dụng ở nước ta hiện nay bao gồm:

+ Ngân hàng Nhà nước cho thương mại: là một ngân hàng thương mại được thành lập bởi ngân sách vốn nhà nước 100% bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; Ngân hàng Công thương Việt Nam (cổ phần hóa); Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (cổ phần hóa); Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Ngân hàng Phát triển +: ngân hàng nhà nước được hình thành từ ngân sách nhà nước và được tài trợ bởi các nước khác như ODA để đầu tucho các dự án phát triển kinh tế - kỹ thuật của nhà nước.

+ Ngân hàng Chính sách xã hội là một ngân hàng được thành lập bởi ngân sách nhà nước và một phần của khoản tiền gửi hàng năm của các ngân hàng thương mại Nhà nước chuyển sang (2%) cho các ngân hàng hoạt động không vì lợi nhuận với mục đích vay vốn xóa đói giảm nghèo, sinh viên vay vốn và cho vay đối với người lao động nước ngoài.

+ Ngân hàng thương mại cổ phần là một ngân hàng thương mại được thành lập bằng vốn góp của các cổ đông.

+ Ngân hàng thương mại liên doanh: Ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của cả hai bên tham gia liên doanh. Một bên là các ngân hàng của Việt Nam và một bên là ngân hàng nước ngoài. Liên doanh ngân hàng thương mại có trụ sở tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật của Việt Nam và cũng chịu sự quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

+ Tín dụng hợp tác là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được thành lập với vốn góp từ các thành viên, huy động các nguồn lực của các thành viên và cho các thành viên vay. Hợp tác xã tín dụng hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi địa phương theo quy định tại điều lệ chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

+ Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

+ Công ty tài chính: Một công ty nhà nước hoặc cho vay cổ phần chủ yếu là để mua và bán hàng hóa, dịch vụ sử dụng quỹ riêng hoặc mượn của người dân bởi các hóa đơn phát hành và không được nhận tiền gửi tiết kiệm của người dân và không sử dụng vốn vay dân cư như là một phương tiện thanh toán.

Ngoài ra, có những hình thức khác, chẳng hạn như các quỹ tín dụng nhân dân, công ty cho thuê tài chính.

Được xây dựng trong cơ chế chuyển đổi, Pháp lệnh đã không thể đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống tài chính ở Việt Nam trong giai đoạn nửa cuối năm 90. Trong phản ứng, Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng. Trong rung pháp lý cao hơn, Luật Các tổ chức tín dụng đã tạo ra một môi trường pháp lý mới cho sự phát triển của các ngân hàng.

Ngân hàng thương mại mở rộng đối tượng phục vụ cho các ngành kinh tế công cộng, mở rộng thị trường. Nhiều hoạt động Ngân hàng mới được thực hiện như bước đầu hoạt động cầm đồ, chiết khấu giấy tờ có giá, tài chính bán hàng trả góp, cho thuê tài chính, bán đấu giá tín phiếu kho bạc, mua cổ phần của doanh nghiệp góp vốn, ...

Để nâng cao hiệu quả hoạt động, các ngân hàng thương mại bỏ dần trình độ trung cấp, các hoạt động chính sách từng bước riêng biệt và hoạt động thương mại, tăng độc lập tương đối cho các chi nhánh, đổi mới công nghệ in đậm phù hợp với yêu cầu quản lý kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, các công ty con tạo ra ban đầu để triển khai kinh doanh mới.

Ngân hàng lớn thường có nhiều chi nhánh, sở hữu nhiều công ty, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, thị trường và có thể có nhiều chi nhánh ở nước ngoài. Ngân hàng lớn là ngân hàng cung cấp dịch vụ bán buôn với các khách hàng lớn (Tổng công ty, tập đoàn kinh tế, ...). Do đó, cơ cấu tổ chức của ngân hàng với tính chất chuyên môn cao. Trong phòng chuyên môn tập trung các chuyên gia tư vấn, nghiên cứu thị trường, công ty phân tích tài chính, ngành, quốc gia, các chuyên gia về cho vay, chứng khoán, luật pháp, nguồn nhân lực, công nghệ, ...

Tổ chức bộ máy của các ngân hàng lớn cũng được phản ánh trong cơ cấu tổ chức của các đơn vị thành viên. Các chi nhánh ngân hàng lớn cũng được phản ánh trong cơ cấu tổ chức của các đơn vị thành viên. Các chi nhánh của các ngân hàng lớn, gồm các phòng chuyên môn như các công ty tín dụng, tín dụng tiêu dùng, thẩm định và bảo lãnh phát hành, kế toán và thanh toán quốc tế, ủy thác, ...

Các ngân hàng nhỏ thường ít hoặc không có chi nhánh, hoạt động trong phạm vi địa phương, hoạt động kém đa dạng. Để thích ứng với quy mô nhỏ, thu nhập thấp, các ngân hàng nhỏ thường xuyên tổ chức bộ máy gọn nhẹ, mỗi phòng có thể giữ một số nhiệm vụ, ví dụ như văn phòng tín dụng đã cho vay tiêu dùng doanh nghiệp vừa, đã phân tích các dự án, ... ngân hàng nhỏ đòi hỏi mỗi cán bộ phải thành thạo
nhiều việc. So với các ngân hàng lớn, các mối liên hệ giữa khả năng kiểm soát chặt chẽ hơn căn phòng nhỏ của ngân hàng của ban giám đốc cho các bộ phận cao

Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Hoạt động quản lý nợ kém định hướng

Hoạt động quản lý nợ kém định hướng

Với các hoạt động cho vay phát triển theo định hướng tăng cả về số lượng và chất lượng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam sẽ phải đối mặt nhiều hơn so với nguy cơ nợ xấu. Để thực hiện các chính sách đề xuất, đồng thời đảm bảo sự an toàn của các khoản cho vay và nâng cao chất lượng cho vay và quản lý tín dụng, nợ xấu của ngân hàng thương mại quản lý theo định hướng trong hoạt động tín dụng tại Việt Nam Nam tương lai như sau:

Hạn chế do quản lý nợ nghèo
Hạn chế trong hoạt động quản lý nợ xấu
Kết quả đạt được trong việc quản lý các khoản nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
Môi trường pháp lý cho việc quản lý các khoản nợ xấu
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý các khoản nợ xấu
- Trong kế hoạch dài hạn cho năm 2020, các ngân hàng trung ương đã đặt mục tiêu cho tỷ lệ nợ xấu / tổng dư nợ ngân hàng dưới 5% theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế.

- Ban Các giám đốc ngân hàng phải nâng cao nhận thức, xem xét, quyết định phù hợp trong các mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tiềm năng lợi nhuận của ngân hàng và nợ xấu. Đó là lý do tại sao các quy trình kinh doanh phải được dựa trên thực hiện đúng các quy định và hướng dẫn của Ngân hàng để giảm thiểu các khoản nợ xấu.

- Tập trung vào việc nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát chặt chẽ quá trình giải ngân và thu, giảm dần các khoản nợ xấu. Chuyển dịch cơ cấu tín dụng mạnh mẽ theo hướng tăng cường các lãi suất cho vay, bảo lãnh, cho vay thấp dưới quy định, các khoản vay giới hạn trong lĩnh vực công nghiệp và có nguy cơ cao như chứng khoán, bất động sản ...

- Thực hiện các hoạt động phân tán rủi ro, không tập trung quá nhiều vào các ngành công nghiệp của một khoản vay, ngành, công ty đã mở rộng, đa dạng hóa các khoản vay đa dạng hóa và giảm thiểu rủi ro. Lựa chọn của khách hàng có một vị trí lành mạnh tài chính, kết quả kinh doanh, sản xuất chương trình cho vay khả thi ổn định và có một định hướng tốt. Mối quan hệ với việc duy trì khách hàng truyền thống có một danh tiếng tốt, phát triển, xác định khách hàng tiềm năng thực hiện đầy đủ các tiêu chí và mục tiêu của ngân hàng.

- Đề xuất lộ trình chủ động, kế hoạch chi tiết về hạn mức số nợ xấu, không phải để tạo ra các lỗi hoạt động liên quan đến tài khoản nghi ngờ về quan hệ đối tác hạn chế. Các kế hoạch này phải được lập thành văn bản, phổ biến đến các Bộ có liên quan và gửi bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại từng ngành để giám sát, theo dõi.

Xem thêm: Kết quả đạt được trong việc quản lý các khoản nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
- Bộ sưu tập và lộ trình xử lý nợ xấu đã được xử lý để đảm bảo việc thu hồi vốn ngân hàng.

- Chủ động phối hợp với các phòng ban có liên quan để đáp ứng nhanh chóng các câu hỏi chuyên nghiệp về các cơ chế liên quan đến nợ xấu ... Các ngành phải tham khảo ý kiến các bộ ngành liên quan các hoạt động ở ghế trước hoạt động hoặc văn bản tới các biện pháp hỗ trợ của trụ sở chính.

- Kiểm soát nội bộ của Ủy ban, trong bộ phận quản lý nợ xấu chỉ đạo các phòng ban của chi nhánh trong việc giám sát các hoạt động của từng chi nhánh của nợ xấu, giám đốc điều hành báo cáo các trường hợp như vậy để thực hiện không đứng đắn trước biện pháp khắc phục.

- Sử dụng các biện pháp khắc phục, cơ quan giáo dục (bao gồm cả các nhà lãnh đạo và nhân viên) để tăng cường ý thức trách nhiệm trong công việc; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm của giám đốc điều hành để thiết lập một ví dụ cho các đại lý khác.

Hoạt động quản lý nợ kém định hướng

Hoàn thiện mô hình chiến lược và quản lý rủi ro tín dụng

Hoàn thiện mô hình chiến lược và quản lý rủi ro tín dụng

Theo yêu cầu của Ủy ban Basel, cơ cấu tổ chức của các ngân hàng thương mại cần phải thay đổi để thực hiện quản lý tốt hơn hoạt động của rủi ro tín dụng. Ủy ban quản lý rủi ro ngân hàng được thành lập, bao gồm các chuyên gia hiểu biết sâu sắc về các loại rủi ro (rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, ...) để đánh giá mức độ đầy đủ rủi ro của ngân hàng.

Quản lý rủi ro tín dụng
Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng
Một số biện pháp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Định hướng trong việc quản lý rủi ro tín dụng
Những quan điểm của rủi ro tín dụng
Mỗi ngân hàng trong hệ thống phải đề ra các chiến lược quản lý rủi ro tín dụng dựa trên phân tích sơ bộ của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro liên quan đến khoản vay, cũng như khả năng chịu rủi ro của họ. Biện pháp kiềm chế nợ xấu phát sinh có thể dẫn đến một thu hẹp quy mô tín dụng, từ đó trực tiếp hạn chế khả năng sinh lời, do đó, các ngân hàng cần xác định mức độ rủi ro có thể chấp nhận được để tiếp tục tìm kiếm lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của họ. Mục tiêu giảm thiểu nợ xấu ở mức độ như thế nào để được thể hiện rõ trong chiến lược quản lý rủi ro và chiến lược này cần được chỉ đạo rà soát hàng năm, phải phản ánh xu hướng chung của kế hoạch kinh doanh thiết kế tín dụng.

Cũng cần lưu ý rằng giới hạn và chấp nhận một mức độ rủi ro phù hợp với các phương pháp để đo lường rủi ro được chọn ngân hàng và giới hạn đó phải được sự chấp thuận của Hội đồng quản trị, và thường xuyên phải được xác định trong khoảng thời gian thường xuyên. Các ngân hàng phải quy định các chiến lược, phương pháp và công cụ phòng ngừa rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể sử dụng, phương pháp đánh giá mức độ thiệt hại xảy ra trong điều kiện thị trường biến động xấu xảy ra ngoài dự kiến. Ngoài ra để xem xét những mất mát trong quá trình xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng nói chung, cũng như trong việc điều chỉnh các thiết lập và sử dụng các báo cáo rủi ro tín dụng nói riêng.

Trong việc quản lý chiến lược của rủi ro tín dụng, nổi bật hơn là nội dung của chính sách tín dụng và quy trình tín dụng. Trong bối cảnh này, các ngân hàng thương mại của Việt Nam cũng cần phải hoàn thiện các chính sách quản lý rủi ro tín dụng của đơn vị mình. Mục tiêu của chính sách quản lý rủi ro tín dụng được xác định là nội dung cần được thực hiện để hạn chế và kiểm soát rủi ro. Trong chính sách này nên xác định các bộ phận cá nhân và chịu trách nhiệm về các quyết định quản lý rủi ro, cung cấp cho việc xây dựng quản lý rủi ro mô hình, thiết lập hệ thống đo lường rủi ro như cả một vùng, và đánh giá tác động của các nguyên nhân của rủi ro tín dụng là rủi ro cá nhân và rủi ro hệ thống.

Ngoài ra, các ngân hàng phải tái cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý rủi ro đối với bộ phận quản lý đầy đủ, tách bộ máy quản lý rủi ro độc lập của doanh nghiệp; hướng tới việc thực hiện quản lý rủi ro theo chiều dọc, giảm dần mức độ phân cấp ủy quyền của các hàng. Nâng cao chất lượng của các công cụ đo lường rủi ro và tiếp tục áp dụng các công cụ đo lường rủi ro mới. Thiết lập và tách các nhóm chuyên nghiệp, chẳng hạn như quản lý rủi ro; Quản lý tín dụng; Quản lý tài sản nợ / Yes, quản lý tài chính - kế toán; Quản trị nhân sự; Quản lý thanh khoản; Quản lý công nghệ; Quản lý & Tiếp thị chiến lược kinh doanh; Sau khi nghiên cứu các mô hình tình hình quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở VN và các yêu cầu của quản lý rủi ro tín dụng mô hình trong bối cảnh mới, các tác giả đề xuất các mô hình quản lý rủi ro tín dụng chung như sau: Mô hình này kết hợp ba cách bao gồm cả sử dụng nguy cơ định lượng đo lường, tổ chức quản lý rủi ro tập trung với hệ thống điều khiển kép. Vì vậy, mô hình quản lý rủi ro tín dụng cho các ngân hàng Việt Nam được đề xuất là:

Biểu đồ 4.1: Đề xuất mô hình quản lý rủi ro tín dụng cho các ngân hàng Việt Nam nói chung

Điều kiện để thực hiện quản lý rủi ro tín dụng mô hình:

Hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam có khả năng áp dụng mô hình quản lý rủi ro tổng thể như vậy với các điều kiện sau đây:

+ Điều kiện năng lực tài chính: Mô hình này đòi hỏi sức mạnh tài chính vững mạnh để đầu tư vào hệ thống công nghệ, tăng cường các phòng ban kiểm soát nội bộ của ngân hàng, cho thuê và kiểm toán bên ngoài và niêm yết cổ phiếu tập thể dục nào trên thị trường.

+ Điều kiện công nghệ và hệ thống thông tin quản lý: Ngân hàng cần có một nền tảng công nghệ vững chắc, hệ thống dữ liệu đầy đủ và hệ thống thông tin quản lý để có thể tập trung tính toán rủi ro. Ngoài ra các ngân hàng cần phải có một hệ thống thông tin nội bộ và hệ thống báo cáo cho cơ quan giám sát ngân hàng trung ương chính xác và kịp thời.

+ Điều kiện về nhân sự: Cần phải có một đội ngũ chuyên gia trong quản lý rủi ro, kinh nghiệm kiểm soát nội bộ. Hệ thống nhân viên tham gia các đo lường rủi ro tín dụng cần phải hiểu hệ thống tài chính, có kiến thức cơ bản và quản lý rủi ro tín dụng cao, hiểu được nguyên tắc của Basel II Basel nhất, có kiến thức về kinh tế. Ngoài ra, cần phải tham khảo và tìm kiếm sự giúp đỡ của một đội ngũ kiểm toán viên và các cơ quan tư vấn bên ngoài.

+ Điều kiện về quản trị và tổ chức: quản trị hệ thống và tổ chức đã được tăng cường, việc phân cấp proxy trong suốt giữa các bộ phận kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ của ngân hàng, tránh sự chồng chéo chức năng và quyền hạn. Đặc biệt, tập trung quyền lực trong Hội đồng quản trị, các thông tin thu thập được tại Trụ sở chính.

+ Thị trường Điều kiện: Cần phải có một thị trường tài chính phát triển, tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế như Basel II. Các thực thể tham gia vào thị trường một cách bình đẳng với các hoạt động của đối thủ cạnh tranh công bằng.

Kết luận: Việc xác định và mô hình quản lý rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng của Việt Nam phải là bản thân ngân hàng được coi là một quá trình, không tĩnh và liên tục phát triển. Mô hình quản lý rủi ro của hệ thống ngân hàng Việt Nam là mô hình được đề xuất kết hợp của: (i) mô hình đo lường rủi ro là định lượng; (Ii) mô hình tổ chức quản lý tập trung rủi ro; (Iii) mô hình kiểm soát rủi ro tín dụng kép. Các ngân hàng mô hình được chọn và được áp dụng trong khoảng thời gian bất kỳ phụ thuộc vào các điều kiện bên ngoài của các ngân hàng, các chiến lược cụ thể của ngân hàng, nhưng có
để nói mô hình quản lý rủi ro tổng thể trong dài hạn là điểm đến mà tất cả cần hướng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, các ngân hàng thương mại nhỏ, năng lực tài chính yếu, các điều kiện về công nghệ và quản lý các hệ thống đã không được củng cố ... không đủ điều kiện để áp dụng mô hình này. Do đó, để hướng tới việc áp dụng các mô hình, cần phải có một liên kết nào đó với nhau về mặt công nghệ, thông tin và quản trị để đáp ứng các điều kiện hoạt động của mô hình.

Hoàn thiện mô hình chiến lược và quản lý rủi ro tín dụng

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Ngăn ngừa nợ xấu

Ngăn ngừa nợ xấu

Đối với các biện pháp để ngăn ngừa nợ xấu, xin vui lòng AZ luận văn này quy định chung, và đặc biệt có sự tham khảo một số nguyên tắc cơ bản của Basel.

1. Xây dựng một mô hình quản lý rủi ro tín dụng

Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng được xây dựng cách thức quản lý rủi ro tín dụng tổng thể của một ngân hàng, trong đó thể hiện cách thức tổ chức quản lý và thực hiện quy trình tín dụng để xác định, đo lường và điều khiển rủi ro tín dụng nhằm kiểm soát rủi ro trong một giới hạn cho phép về nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận.

Đo lường nợ xấu
Xác định và các khoản nợ xấu
Quan điểm về quản lý nợ xấu
Quan điểm của các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại
Nghiên cứu tình hình ở nước ngoài trong các khoản nợ xấu ngân hàng
Hiện nay, nhiều ngân hàng trên thế giới đã bắt đầu quan tâm đến việc xác định mô hình riêng của họ về quản lý rủi ro thích hợp để nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro hơn là cung cấp phương pháp quản lý rủi ro lây lan như trước.

Các mô hình phát triển của quản lý rủi ro tín dụng cho các ngân hàng thừa nhận chính xác hơn về triển vọng của kinh doanh ngân hàng trong tương lai, bởi vì nó là công ty chính sách có thể phù hợp. So với các chỉ số phản ánh thực tế của các công ty như doanh thu, lợi nhuận, lãi, phí ... "nguy cơ" tự nhiên "dự đoán". Nói về nguy cơ liên quan đến các sự kiện xảy ra là không chắc chắn. Và trên thực tế, người ta có thể bỏ qua các kết quả này xảy ra trong tương lai tập trung nhiều hơn vào các mục tiêu trước mắt. The nhẹ những rủi ro này có nghĩa là các ngân hàng có thể bị lỗ nặng xảy ra trong tương lai. Đó là lý do tại sao sự quan tâm trong việc áp dụng mô hình quản lý rủi ro có nghĩa là ngân hàng thu được rủi ro trong vấn đề cấp bách trong hoạt động với các mục tiêu của hai bên
"Chi phí hiệu quả" mặc dù nguy cơ đã không xảy ra.

Cụ thể trong các mô hình quản lý rủi ro tín dụng, sự cần thiết phải giải quyết vấn đề cơ bản là: mô hình quản lý sẽ làm việc trên những điều khoản (trung hay phân phối), làm thế nào để đo lường rủi ro như thế nào ro (hay định lượng) và hệ thống rủi ro kiểm soát như thế nào? (Sử dụng mô hình để kiểm soát một điều khiển đơn hoặc kép).

Xem thêm: Quan điểm của quản lý nợ xấu
Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro

Nó cần phải có chiến lược quản lý rủi ro phù hợp với chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ và có thể được điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thị trường tín dụng. Quản lý rủi ro chiến lược nói chung để hạn chế nợ xấu phải xác định những điểm mạnh và điểm yếu của các ngân hàng, các cơ hội và mối đe dọa của môi trường kinh doanh ... Chiến lược này cần được quy hoạch trong một mua nhiều hơn vào thứ tự ưu tiên cho các mục tiêu của cuộc xung đột trong công ty. Chiến lược để ngăn chặn và giảm thiểu rủi ro đặc biệt chú trọng đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư tín dụng trên cơ sở phân bổ hợp lý vốn và quản lý rủi ro chi phí sẽ được hình thành trên cơ sở của các bộ phận hữu cơ phù hợp và cố định với chiến lược tổng thể của kinh doanh của ngân hàng.

Về nguyên tắc 1 của Ủy ban Basel về dự phòng nợ xấu:

- Mỗi ngân hàng cần xây dựng một chiến lược hay kế hoạch quản lý rủi ro tín dụng (chấp nhận một tỷ lệ thích hợp của nợ xấu), trong đó xây dựng các mục tiêu hướng dẫn các hoạt động ngân hàng mở rộng tín dụng và thực hiện các chính sách và thủ tục cần thiết để thực hiện các hoạt động này. Hội đồng có trách nhiệm phê duyệt và định kỳ xem xét lại chiến lược quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng.

- Chiến lược của hoạt động ngân hàng phản ánh rủi ro của các ngân hàng với một mức độ nhất định của lợi nhuận dự kiến của ngân hàng. Cụ thể, chiến lược quản lý rủi ro cần phải chứng minh việc kê khai của các khoản vay ngân hàng để cung cấp tín dụng dựa trên rủi ro khác nhau tiềm năng, kinh tế, địa lý, tiền tệ, sự trưởng thành và khả năng sinh sản lợi ích có khả năng. Chiến lược này cũng có thể xác định thị trường mục tiêu của bạn và những đặc điểm chung mà các ngân hàng muốn đạt được trong các danh mục đầu tư tín dụng.

- Các chiến lược để chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu cần được phổ biến một cách hiệu quả trong các ngân hàng. Tất cả các nhân viên ngân hàng phải hiểu và có trách nhiệm tuân thủ các thủ tục và chính sách mô tả. Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị cấp quản lý hoạt động tín dụng được tiến hành bởi các ngân hàng và các hoạt động này được tiến hành ở cấp độ chiến lược, chính sách và khả năng chịu rủi ro đã được phê duyệt bởi Hội đồng.

3. Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh

Như đã thảo luận ở trên, yêu cầu bồi thường do nhiều nguyên nhân: môi trường kinh doanh, rủi ro của người vay và sự yếu kém chủ quan của ngân hàng cho vay. Như vì lý do chủ quan cho các ngân hàng dẫn đến nợ xấu, hầu hết trong số đó đến từ việc đánh giá, kiểm tra tín dụng không phù hợp với nguyên tắc 6 Cs trong việc đánh giá và kiểm soát tín dụng. Vì vậy, khi các khoản nợ có thể trở thành nguy cơ nợ xấu, các ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm cho các khoản vay này.

Đối với các khoản nợ, các khoản nợ từ nhóm 2 đã khẩn trương cần thiết để phân tích những nguyên nhân và biện pháp tín dụng, không chậm trễ kéo dài, dễ dẫn đến nguy cơ nợ xấu. Thanh toán tín dụng khách hàng các quy định nợ gốc và / hoặc lãi suất cho một ngày chỉ trễ, đủ để cho toàn bộ số dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng đã được chuyển sang nợ quá hạn, phân loại là Nhà nước nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý). Đây là chưa kể đến việc phân tích định tính khả năng trả nợ bị suy yếu, tổn thất ước tính với giá trị ban đầu được giao cho các khoản nợ của nhóm 2. Do đó, cho vay phân loại tự động phải được thực hiện một cách minh bạch trên Hệ thống phần mềm quản lý nợ làm cho nhóm ô tô trong mặc định phát sinh từ việc quản lý các tập tin vay và bảng cân đối.

Yêu cầu nợ nhóm cảnh báo sớm 2 đòi hỏi người cho vay để trực tiếp kiểm tra và thu thập thông tin khách hàng để giải quyết vấn đề ngay lập tức:

Các nguyên nhân chính của lãi trả trễ và / hoặc khách hàng?

Nguyên nhân trực tiếp: vì lỗ của một nhiệm vụ, không thu được bằng trách nhiệm, mất thị phần bởi rất nhiều sản phẩm giảm tồn kho vì gian lận ...

Nguyên nhân chủ yếu: thiếu vốn, thua lỗ kéo dài, vốn dòng tiền âm, đầu tư lan, lạm dụng quỹ, hiệu quả của các dự án kém, gia nhập thị trường bị mất, sản xuất, năng lực quản lý kém ....

Để tránh thủ tục vay vốn đáo hạn nợ như đã nêu, sau đó, ngay cả khi khách hàng có nguồn trả nợ của Tập đoàn 2, cho vay ngân hàng nên cũng "viếng thăm" khách hàng để biết nơi mà nguồn trả nợ. Nếu nhóm 2 dư nợ là cố định không quá 30 ngày, nguồn trả nợ của các dòng vốn chủ yếu là kinh doanh lành mạnh, bạn có thể yên tâm về tình hình tài chính của khách hàng vay. Tuy nhiên, nếu chậm trễ lãi / yếu được định nghĩa là dấu hiệu, nguyên nhân của sự không chắc chắn trong kinh doanh rõ ràng là trường hợp tạm hoãn cán bộ tín tâm phải báo cáo quản lý tín dụng và quá trình sản xuất khuyến cáo. Tại thời điểm đó, phát hiện, cảnh báo sớm sẽ có một tác động tích cực cho cả hai bên để kịp thời khắc phục vấn đề. Nếu vận chuyển một lỗ chậm trễ, nợ chưa thanh toán ... như cảnh báo của các khoản vay ngân hàng để vay tìm kiếm nguồn trả nợ, tài khoản đồng thời sửa đổi và quyết định kinh doanh để phòng ngừa rủi ro. Nếu giới hạn được thiết lập bởi những khó khăn tài chính sâu, kết quả sẽ giúp hai bên đồng ý giải pháp nợ, thống nhất lộ trình cho việc điều trị tổng thể của khoản nợ. Đối với các khoản vay ngân hàng, để xây dựng một bộ xử lý ma trận tùy thuộc vào RRTD thực tế hợp lý.

Với ý nghĩa là nợ xếp hạng nợ được coi là nhiệt kế loại 2 RRTD đo và cảnh báo sớm ở cấp ngân hàng. Cho dù các khoản vay lớn hoặc các khoản vay nhỏ, các khoản vay của các doanh nghiệp công cộng hoặc các công ty tư nhân, cho vay không có tài sản hoặc nợ có bảo đảm, khả năng của nhóm 2, việc chuyển nhóm nguy cơ nợ 2 tỷ lệ nợ xấu là rất tiềm ẩn trong mỗi khoản vay ngân hàng.

Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu cần được đặc biệt quan tâm. Hệ thống này phải bao gồm các thủ tục và quy trình thích hợp để xây dựng một hệ thống cảnh báo toàn cầu. Một quá trình cảnh báo sớm thường liên quan đến một số lượng lớn các yếu tố cơ bản, bao gồm cả tính đầy đủ, cập nhật và tính chính xác của thông tin là yếu tố then chốt.

Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng:

Các hoạt động tín dụng chính mình luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn, do đó các ngân hàng trong thời gian xem xét cho vay phải thực hiện các quy trình nghiêm ngặt về quản lý tín dụng, đánh giá, kiểm soát giải ngân tiền vay trước và sau khi vay ... Việc thực hiện và quản lý chặt chẽ các quy trình quản lý tín dụng sẽ giúp các ngân hàng để tránh các nguy cơ nợ xấu phát sinh, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai sót và thiếu sót trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Kết quả từ yêu cầu này, việc xây dựng các trình tự và thủ tục mà hiệu quả vẫn còn đòi hỏi cấp bách. Sổ tay tín dụng phải xác định rõ, cụ thể, thủ tục và quy trình rõ ràng, đặt hàng tất cả các công việc liên quan đến hoạt động tín dụng, sau khi nhận được đơn xin vay cho đến khi phục hồi đầy đủ gốc và lãi của khoản vay. Việc xây dựng các hướng dẫn tín dụng nhằm làm cho hoạt động tín dụng thực hiện một cách có hệ thống và thống nhất.

Thông thường, quá trình tín dụng được thực hiện trong bảng thứ tự 1.3 dưới đây:

1.3. Quy trình tín dụng

Ghi chú công việc cảnh
Việc cung cấp tín dụng (1) lập hồ sơ đề nghị một mức tín dụng bao gồm:
- Các điều khoản của giao dịch

- Tài liệu, giấy tờ

- Thông tin về các giao dịch tài chính và khách hàng doanh nghiệp

- Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng

- Tài sản thế chấp

Phân tích và đánh giá các hồ sơ tín dụng (2) Phân tích các rủi ro tiềm ẩn của các hoạt động bao gồm:
- Rủi ro Khả năng thanh toán

- Những rủi ro phát sinh từ đặc tính hồ sơ của từng giao dịch

Phân tích và đánh giá các hồ sơ tín dụng - Rủi ro
khách hàng ảnh hưởng đến (3) phân tích rủi ro bị mất tín nhiệm của khách hàng, bao gồm:
- Chất lượng của các khoản vay cá nhân và khả năng thực hiện hợp đồng.

- Mục Corporate

- Các mức độ rủi ro của các khoản tín dụng hiện nay

Các phân tích và đánh giá có thể được thực hiện trong ngân hàng hay sự kết hợp của phân tích bên thứ 3 (cơ quan đánh giá và xếp hạng tín dụng). Quá trình này có thể hoặc không có thể bao gồm một đánh giá chi tiết của việc mất khả năng thanh toán và tỷ lệ thu hồi vốn
Việc đánh giá tín dụng (4) đánh giá rủi ro tín dụng trên cơ sở rủi ro:
- Rủi ro không tôn trọng nghĩa vụ của mình theo dong.- build tín dụng để tránh rủi ro


Quá trình này được thiết kế để đánh giá:
- Các yếu tố nguy cơ đối với mỗi khách hàng ảnh hưởng đến các nhóm khách hàng.

- Tránh rủi ro tín dụng hơn là xây dựng mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận.

- Quá trình này là chủ quan hơn là mục tiêu, và có thể đếm trên đánh giá nội bộ và các chuyên gia tư vấn độc lập.

Hạn mức tín dụng xây dựng (5) Một ứng dụng tín dụng có thể được chấp nhận hay từ chối. Chấp nhận có thể bị các điều kiện nhất định (thường là cần thiết cho các văn bản thế chấp, các điều khoản hạn chế tín dụng, hợp đồng) hiếm khi sử dụng mặt hàng giá (chi phí lãi vay) của chế tín dụng
Quản lý hạn ngạch
Tín dụng (6) dòng tín dụng phải được kiểm soát thường xuyên và theo dõi để đảm bảo sự tuân thủ. Các công việc quản lý tập trung vào không được rút vượt quá yêu cầu hạn ngạch và khách hàng tuân thủ các điều kiện ghi nhận. Đảm bảo các khoản vay giới hạn pháp lý cho khách hàng, không phải là khách hàng vi phạm các giới hạn đã ký kết.
Kiểm tra tín dụng
Rủi ro liên quan (7) Khách hàng phải được đánh giá định kỳ để xem xét và đánh giá sự thay đổi về chất lượng và khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Thực hiện liên tục đánh giá, phân loại và xếp hạng tín dụng trong thời gian khách hàng là vay
Sự kiểm tra
Control (8) phiếu ngân hàng và kiểm soát tất cả các thông tin có liên quan cho khách hàng vay. Đừng ngạc nhiên khi các ngân hàng cho vay vốn phát trở thành vấn đề.
Nguồn: "Xây dựng một hệ thống cảnh báo rủi ro cho các khoản nợ" - Trung tâm Thông tin tín dụng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Đối với mỗi bước quy trình, Ủy ban Basel được trao cho các nguyên tắc quản lý.

Các nguyên tắc quản lý Basel II RRTD. [54]

Basel II đã đưa ra 17 nguyên tắc vàng của các ngân hàng thương mại quản lý các hoạt động RRTD. Những nguyên tắc này được áp dụng như sau:

Trong giai đoạn 1, "Yêu cầu tín dụng" Nguyên tắc 8 quy định rằng:

Hồ sơ tín dụng yêu cầu của tất cả các thông tin cần thiết để xác định tình hình tài chính hiện tại của khách hàng vay. Việc xem xét lại dịch vụ cho vay tín dụng nên xác định các tập tin đầy đủ và đáp ứng được phê duyệt và các văn bản cần thiết khác.

Theo nguyên tắc 4, cấp tín dụng tiêu chí được xác định rõ ràng sức khỏe tốt. Các tiêu chuẩn phải xác định thị trường mục tiêu của ngân hàng và các ngân hàng để hiểu và biết những người đi vay và mục đích và cơ cấu tín dụng.

Sự phát triển của các tiêu chuẩn tín dụng là khỏe mạnh là cực kỳ quan trọng đối với chính tín dụng. Các tiêu chí cần chỉ ra khách hàng có đủ điều kiện tài trợ, loại tín dụng và các điều khoản và điều kiện của tín dụng. Các ngân hàng phải nhận được đầy đủ thông tin để cho phép đánh giá đầy đủ các hồ sơ rủi ro của khách hàng vay. Tùy thuộc vào loại quan hệ và RRTD tín dụng hiện tại, những yếu tố được xem xét và đưa vào trong quá trình phê duyệt tín dụng.
Nguyên tắc 6, các ngân hàng cần phải có quy trình rõ ràng cho việc phê duyệt khoản tín dụng mới cũng như những sửa đổi, gia hạn, tái tài trợ các khoản vay cũ. Một số thành viên của các nhân viên ngân hàng tham gia vào quá trình tín dụng. Những chất này có thể là những người của bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và các bộ phận chính tín dụng.

Để có được các ngân hàng danh mục tín dụng lành mạnh để xây dựng các quy trình gia hạn thẩm định tín dụng và phê duyệt. Việc phê duyệt phải phù hợp với hướng dẫn bằng văn bản ban hành bởi các ngân hàng và những nhà lãnh đạo thích hợp. Cần kiểm tra bằng chứng rõ ràng chứng minh việc tuân thủ các thủ tục phê duyệt và xác định các cá nhân hoặc tổ chức cung cấp quyết định đầu vào và tín dụng dữ liệu.

Nguyên tắc 7, mở rộng tín dụng nên được thực hiện trên cơ sở phân phối hợp giữa các bên. Đặc biệt, các khoản vay cho các doanh nghiệp và cá nhân có liên quan phải được phê duyệt trên cơ sở nhu cầu đặc biệt theo dõi cẩn thận và thực hiện các biện pháp cần thiết để kiểm soát để loại trừ rủi ro.

Chất liệu giao dịch với các bên liên quan phải được sự chấp thuận của hội đồng quản trị, và trong một số trường hợp phải được báo cáo cho các cơ quan giám sát ngân hàng.
Giai đoạn 2 "Phân tích và đánh giá các hồ sơ tín dụng" và giai đoạn 3 "Sub
và đánh giá các hồ sơ tín dụng -. khách hàng rủi ro ", nên theo nguyên tắc số 10, để khuyến khích các ngân hàng để phát triển và sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong phân tích Hệ thống xếp hạng cần được tương thích với tính chất, quy mô và độ phức tạp của ngân hàng. Điều quan trọng là sự thống nhất và chính xác của các mức xếp hạng được kiểm tra định kỳ một bộ phận của nhóm như một đánh giá tín dụng độc lập.

Bước 4 "Đánh giá rủi ro và đo lường của các khoản vay", ngân hàng có thể đo các khoản vay rủi ro thông qua các mô hình chấm điểm tín dụng, mô hình điểm số Z và các mô hình chấm điểm tín dụng theo Basel II nội bộ. Nếu mô hình điểm số tín dụng cho đánh giá rủi ro của khách hàng dựa trên các điểm bây giờ bây giờ thấy có nguy cơ theo Basel II có thể tính toán xác suất rủi ro hoặc thiệt hại dự kiến sẽ mất EL .

Đối với giai đoạn 5 "Xây dựng một dòng tín dụng", cai trị 5 cho thấy: Các ngân hàng phải thiết lập giới hạn tín dụng cho từng khách hàng và nhóm khách hàng để tạo ra các loại khác nhau của RRTD nhưng có thể so sánh và theo dõi vào sổ kế toán của ngân hàng.

Các giới hạn này thường được một phần dựa trên điểm số tín dụng cho khách hàng vay hoặc khách hàng có xếp hạng cao hơn sẽ được giới hạn ở những rủi ro tiềm năng cao hơn. Nó cũng nên xây dựng trên khu vực giới hạn, thành phần kinh tế, các vùng địa lý và các sản phẩm cụ thể. Để có hiệu quả, các giới hạn này phải được ràng buộc và không mất nhu cầu của khách hàng.

Theo nguyên tắc 2 của Ủy ban Basel như các quy trình tín dụng được phát triển và thực hiện đúng cách sẽ cho phép Ngân hàng: (i) Duy trì các tiêu chí để cấp tín dụng có sức khỏe tốt; (Ii) giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng; (Iii) Để đánh giá đúng những cơ hội kinh doanh mới; (Iv) xác định và quản lý các khoản vay có vấn đề.

Cụ thể, Ngân hàng tham gia vào các hoạt động tín dụng quốc tế, ngoài các RRTD bình thường, họ cũng có nhiều rủi ro liên quan đến điều kiện sống trong các máy chủ hoặc đối tác nước. Ngân hàng tham gia vào quá trình cấp tín dụng phải có các quá trình quốc tế đầy đủ để xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển giao trong các khoản cho vay và đầu tư quốc tế. Các nước có thể theo dõi các yếu tố cần bao gồm (i) vi phạm của các đối tác tiềm năng từ khu vực tư nhân do các yếu tố kinh tế ở mỗi nước, (ii) hiệu lực pháp lý của các hợp đồng vay vốn và thời gian và khả năng quản lý bảo lãnh theo luật quốc gia. Điều này thường là trách nhiệm của các chuyên gia có kinh nghiệm trong vấn đề này.

Hoạt động kiểm tra và giám sát tín dụng

Kiểm tra và giám sát để đảm bảo rằng người vay không phải là công việc của các rủi ro bởi những người cho vay tiền. Ngân hàng thực hiện việc thanh tra với sau khi giải ngân vốn vay, định kỳ kiểm tra các hoạt động của khách hàng vay sản xuất kinh doanh. Đây là một yêu cầu bắt buộc trong quá trình tín dụng đối với tất cả các ngân hàng thương mại nào.

Ngân hàng sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để kiểm tra và giám sát các khoản vay, bao gồm:

- Kiểm tra, giám sát tất cả các khoản vay kỳ trong thời gian kiểm tra bất thường đối với các dấu hiệu rủi ro tín dụng.

- Xây dựng kế hoạch, chương trình và quá trình kiểm tra nội dung một cách cẩn thận và chi tiết, đảm bảo rằng các khía cạnh quan trọng nhất của từng khoản vay phải được kiểm tra.

- Quản lý chặt chẽ và tín dụng thường có vấn đề, tăng cường kiểm tra, giám sát để phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh liên quan đến khoản vay.

- Trong trường hợp tăng trưởng của nền kinh tế suy thoái, ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục đầu tư cho vay đối mặt những vấn đề lớn của các ngân hàng, các ngân hàng cần tăng cường việc sử dụng các biện pháp kiểm soát tín dụng.

Một khía cạnh khác của việc kiểm tra và giám sát các hoạt động tín dụng là việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Hoạt động thanh tra, kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi một độc lập của dịch vụ phòng hoạt động tín dụng là đánh giá nội bộ, hoạt động đánh giá khách quan của hoạt động tín dụng. Trên cơ sở đó, các bộ phận của kiểm tra nội bộ thực hiện chức năng tư vấn cho các hoạt động của các công cụ quản lý bộ phận và giám đốc điều hành ngân hàng.

Ngăn ngừa nợ xấu

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng - Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

C¸c chØ tiªu ph¶n ¸nh rñi ro tÝn dông



§Ó ph¶n ¸nh rñi ro tÝn dông, ng©n hµng th­êng sö dông c¸c chØ tiªu sau:



1. T¨ng tr­ëng tÝn dông “nãng”



T¨ng tr­ëng tÝn dông ”nãng” kh«ng ph¶i lµ chØ tiªu ph¶n ¸nh trùc tiÕp rñi ro tÝn dông, nh­ng sù t¨ng tr­ëng tÝn dông qu¸ nhanh, v­ît qu¸ kh¶ n¨ng kiÓm so¸t cña ng©n hµng th× lóc ®ã nã sÏ ph¶n ¸nh rñi ro tÝn dông. T¨ng tr­ëng tÝn dông “nãng” thÓ hiÖn râ qua c¸c chØ tiªu nh­: (i) Tèc ®é t¨ng d­ nî tÝn dông / Tèc ®é t¨ng tæng tµi s¶n vµ (ii) Tèc ®é t¨ng d­ nî tÝn dông/ Tèc ®é t¨ng tr­ëng kinh tÕ…



C¸c h×nh thøc biÓu hiÖn cña rñi ro tÝn dông

C¸c quan ®iÓm vÒ rñi ro tÝn dông

T×nh h×nh nghiªn cøu trong n­íc vÒ nî xÊu ng©n hµng

Kh¸i niÖm vµ môc tiªu cña chÝnh s¸ch tû gi¸

Nh©n tè t¸c ®éng tíi tû gi¸

2. Ph¸t triÓn c¬ cÊu tÝn dông vµo c¸c ngµnh vµ lÜnh vùc rñi ro cao



C¬ cÊu tÝn dông ph¶n ¸nh møc ®é tËp trung tÝn dông trong mét ngµnh nghÒ, lÜnh vùc, lo¹i tiÒn… do vËy, nÕu c¬ cÊu tÝn dông qu¸ thiªn lÖch vµo nh÷ng lÜnh vùc m¹o hiÓm, sÏ ph¶n ¸nh rñi ro tÝn dông tiÒm n¨ng. C¬ cÊu tÝn dông cã thÓ ®­îc chia theo ngµnh, lo¹i h×nh doanh nghiÖp, thêi h¹n tÝn dông, lo¹i tiÒn tÖ hay theo tµi s¶n ®¶m b¶o.



Xem thªm : C¸c h×nh thøc biÓu hiÖn cña rñi ro tÝn dông

3. Nî qu¸ h¹n



Nî qu¸ h¹n lµ mét trong nh÷ng chØ tiªu ph¶n ¸nh rñi ro tÝn dông. Nî qu¸ h¹n sÏ ph¸t sinh trong tr­êng hîp khi ®Õn thêi h¹n tr¶ nî theo cam kÕt, ng­êi vay kh«ng cã kh¶ n¨ng tr¶ ®­îc nî. Tïy theo thêi gian qu¸ h¹n, kho¶n nî nµy sÏ ®­îc x¸c ®Þnh lµ nî ®ñ tiªu chuÈn, nî cÇn chó ý, nî d­íi tiªu chuÈn, nî nghi ngê, hoÆc lµ nî cã kh¶ n¨ng mÊt vèn…Nî qu¸ h¹n ®­îc ph¶n ¸nh qua 2 chØ tiªu sau:



(i) Tû lÖ nî qu¸ h¹n = Sè d­ nî qu¸ h¹n / Tæng d­ nî



(ii) Tû lÖ kh¸ch hµng cã nî qu¸ h¹n trªn tæng sè kh¸ch hµng = Sè kh¸ch hµng cã nî qu¸ h¹n / Tæng sè kh¸ch hµng cã d­ nî.



NÕu ng©n hµng cã chØ tiªu nî qu¸ h¹n vµ sè kh¸ch hµng cã nî qu¸ h¹n lín th× ng©n hµng ®ã ®ang cã møc rñi ro cao vµ ng­îc l¹i.



4. Nî xÊu



Nî xÊu chÝnh lµ c¸c kho¶n tiÒn cho kh¸ch hµng vay, mµ xuÊt hiÖn kh¶ n¨ng kh«ng thu håi l¹i. C¸c kho¶n nî nµy ph¸t sinh lµ do ng©n hµng thÈm ®Þnh thiÕu chÝnh x¸c, doanh nghiÖp lµm ¨n thua lç hoÆc ph¸ s¶n, nî ph¶i tr¶ t¨ng, doanh nghiÖp mÊt kh¶ n¨ng thanh to¸n hoÆc cè ý kh«ng tr¶ nî…Nî xÊu sÏ ph¶n ¸nh mét c¸ch râ nÐt rñi ro tÝn dông cña ng©n hµng th«ng qua viÖc ®¸nh gi¸ c¶ thêi h¹n qu¸ h¹n cña kho¶n vay vµ tiªu chÝ ®¸nh gi¸ rñi ro cña kho¶n vay. Nî xÊu ®­îc ph¶n ¸nh râ nhÊt qua chØ tiªu:



(i) Tû lÖ nî xÊu = Nî xÊu /Tæng d­ nî



(ii) Tû lÖ nî xÊu / Vèn chñ së h÷u



(iii) Tû lÖ nî xÊu / Quü dù phßng tæn thÊt.



(iv) Tû lÖ nî xÊu / Tæng gi¸ trÞ tµi s¶n ®¶m b¶o



5. Dù phßng rñi ro tÝn dông (DPRRTD)



Dù phßng rñi ro ®¸nh gi¸ kh¶ n¨ng chi tr¶ cña ng©n hµng khi rñi ro x¶y ra. Môc ®Ých cña viÖc sö dông Dù phßng rñi ro lµ nh»m bï ®¾p tæn thÊt ®èi víi nh÷ng kho¶n nî cña ng©n hµng x¶y ra trong tr­êng hîp kh¸ch hµng kh«ng cã kh¶ n¨ng chi tr¶ hoÆc do gi¶i thÓ, ph¸ s¶n, chÕt, mÊt tÝch. DPRRTD ®­îc tÝnh trªn sè d­ nî gèc cña kh¸ch hµng bao gåm:



– Dù phßng cô thÓ: b¶o hiÓm rñi ro cô thÓ cho tõng kho¶n vay



– Dù phßng chung: b¶o hiÓm c¸c rñi ro chung kh«ng x¸c ®Þnh trong danh môc tÝn dông vµ toµn bé dù phßng ®­îc tÝnh vµo chi phÝ ho¹t ®éng cña ng©n hµng. C¸c chØ sè thÓ hiÖn DPRRTD:



(i) Tû lÖ dù phßng rñi ro tÝn dông = Dù phßng rñi ro tÝn dông ®­îc trÝch lËp/ Tæng d­ nî cho k× b¸o c¸o



(ii) HÖ sè kh¶ n¨ng bï ®¾p c¸c kho¶n cho vay bÞ mÊt = Dù phßng rñi ro tÝn dông ®­îc trÝch lËp/ D­ nî bÞ xo¸.



Trong sè c¸c chØ tiªu ph¶n ¸nh rñi ro tÝn dông ë trªn th× nî xÊu ®­îc coi lµ chØ tiªu ®¸nh gi¸ quan träng nhÊt, ph¶n ¸nh rñi ro tÝn dông ®ang ë møc cao.



C¸c chØ tiªu ph¶n ¸nh rñi ro tÝn dông



Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng - Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

Hướng dẫn download miễn phí bài báo khoa học từ trang sciencedirect - Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

Hướng dẫn download miễn phí bài báo khoa học từ trang sciencedirect - Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ

Hướng dẫn download miễn phí bài báo khoa học từ trang Sciencedirect



Hiện nay nhận thấy nhu cầu download bài báo khoa học của các bạn sinh viên và nghiên cứu sinh ngày càng nhiều nên Luận Văn A-Z xin chia sẻ cách download miễn phí bài báo khoa học từ trang Sciencedirect. Tuy nhiên không khuyến khích nhé các bạn vì người nghiên cứu bỏ ra rất nhiều chất xám, các bạn sử dụng chất xám đó thì phải biết tôn trọng họ bằng cách mua bài báo nếu có điều kiện nhé.



Trang web http://www.sciencedirect.com là một trong những thư viện đồ sộ cung cấp các bài báo chuyên ngành, tạp chí khoa học trên thế giới ở hầu hết các các chuyên ngành, tuy nhiên để tải về đọc hay nghiên cứu thì thông thường chúng ta phải bỏ ra một khoản phí nhất định khoảng 35 USD tùy từng tài liệu. Sinh viên VN thì đa số còn nghèo, chính vì thế Luận Văn A-Z xin hướng dẫn cách tải tài liệu từ trang Sciencedirect mà không phải trả phí. (Lưu ý hướng dẫn còn dùng tốt đến thời điểm này)



Bước 1: Vào trang Sciencedirect và tiến hành tìm kiếm bài báo khoa học mình cần Download như bình thường



bài báo khoa học



Bước 2 : Các bạn lựa chọn bài báo khoa học mình cần tải về



bài báo khoa học



Bước 3 : Copy liên kết của bài báo khoa học cần tải về



bài báo khoa học



Bước 4 : Chép vào phần tìm kiếm của trang http://sci-hub.org/ sau đó nhấn vào nút tìm kiếm như hình (Luận văn A-Z bổ sung thêm 1 số trang web tương tự http://booksc.org hoặc http://libgen.org)



Ngoài ra các bạn có thểtự tìm số DOI để tự tải như ví dụ sau đây:



Ví dự như nghiên cứu khoa học có link: http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0034361700874573 . Sau khi chọn vào bài báo các bạn sẽ thấy số DOI bên ở dưới (như hình ở bước 3) DOI: 10.1016/S0034-3617(00)87457-3. Cuối cùng bạn copy số DOI này vào trang http://sci-hub.org cũng sẽ giúp bạn tải được tài liệu này. )



bài báo khoa học



Bước 5:  Chọn biểu tượng download để tài bài báo khoa học về máy



bài báo khoa học



Các bạn nào có khó khăn gì hay không download được bài báo khoa học từ trang Sciencedirect hoặc cần giúp đỡ cứ để lại comment và link download ở dưới, nếu tìm được thì Luận Văn A-Z sẽ giúp đỡ nhé!



Hướng dẫn download miễn phí bài báo khoa học từ trang sciencedirect

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

Phát triển của các ngân hàng thương mại hệ thống tài chính Việt Nam

Phát triển của các ngân hàng thương mại hệ thống tài chính Việt Nam


Luận án AZ - Nghiên cứu được trình bày các biện pháp để phát triển các ngân hàng thương mại hệ thống tài chính Việt Nam

Cải cách Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với ngân hàng trung ương hiện đại, phù hợp với điều kiện của Việt Nam và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về mục tiêu, các công cụ, chức năng, tổ chức và quản lý, trình độ công nghệ và chất lượng con người.

Yếu tố ảnh hưởng tỷ giá hối đoái
Giá phân loại
Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Nghiên cứu về tỷ giá hối đoái lựa chọn chế độ
Phát triển nguồn nhân lực hệ thống ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước các công trình thực sự là đầy đủ và mang thiên nhiên trong nền là NH trung ương nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ yếu thực hiện chức năng của ngân hàng trung ương (tiền ngân hàng phát hành, ngân hàng ngân hàng, người cho vay cuối cùng, cơ quan thị trường điều tiết và thanh toán tiền mặt Trung ương) chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, hệ thống ngân hàng thận trọng. Nhiệm vụ của các ngân hàng trung ương nhằm mục đích chủ yếu là giá trị ổn định của đồng tiền, kiểm soát lạm phát, đảm bảo an toàn hệ thống tiền tệ, ngân hàng, góp phần môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế xã hội. Ngân hàng trung ương độc lập, tự chủ trong việc xây dựng và hoạt động của chính sách tiền tệ, lãi suất và tỷ giá hối đoái. Nâng cao vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các ngân hàng trung ương trong việc thực hiện các chiến lược, xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ trên cơ sở xác định rõ quyền hạn, nhiệm vụ và các cơ quan can thiệp hạn chế liên quan trong quá trình phát triển và thực hiện các chính sách tiền tệ, pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Quan hệ giữa Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, ngành và các tổ chức tài chính phải là một sự phân biệt rõ ràng; và cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngân hàng trung ương với các cơ quan chức năng có liên quan, đặc biệt là Bộ Tài chính trong việc xây dựng và hoạt động của chính sách tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước là trách nhiệm, quyền hạn và quan trọng trong việc quản lý và hoạt động giám sát của các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng, và phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong việc quản lý và giám sát tất cả các hệ thống tài chính. Ngân hàng Nhà nước can thiệp trực tiếp vào các quyết định không có hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước có các nguồn lực và tính độc lập tương đối của các hoạt động, và các tổ chức tài chính hoạt động với các cơ chế khác với chính quyền - nguyên nhân, nhưng dưới sự kiểm soát và giám sát của Chính phủ và Quốc hội.

Đổi mới cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước từ trung ương đến các sắp xếp hợp lý và hiện đại. Tổ chức lại các ngân hàng trung ương, sắp xếp lại các phòng ban trong việc quản lý và quản trị tập trung; cải tiến nghiên cứu, phân tích, dự báo và chuyên môn của đơn vị; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và quan hệ phối hợp giữa các đơn vị. Tái cơ cấu của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước theo hướng tập trung và không áp dụng một cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ thống nhất cho tất cả các chi nhánh ngân hàng nước ngoài; và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sự hình thành của chi nhánh ngân hàng nước ngoài khu vực, không nhất thiết phải sắp xếp chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo địa giới hành chính (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Sắp xếp lại các DNNN trực thuộc ngân hàng trung ương đối với các máy in chỉ giữ cho đồng tiền quốc gia, các doanh nghiệp còn lại sẽ được chuyển đổi sở hữu thông qua tư nhân và sáp nhập. SB không thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các ngân hàng và các doanh nghiệp thuộc các ngân hàng trung ương của vốn nhà nước.

Chính sách tiền tệ hoạt động trên nguyên tắc thận trọng, linh hoạt và hiệu quả trên cơ sở của các công cụ chính sách tiền tệ của công nghệ hiện đại và tiên tiến. Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường. Thực hiện chính sách tiền tệ được dựa trên điều hòa lượng tiền; và xây dựng các điều kiện cần thiết để chuyển sang thực hiện các chính sách quản lý tiền tệ dựa trên lãi suất quy định. Tạo điều kiện cần thiết để sau năm 2010 các ngân hàng trung ương chuyển sang hoạt động theo cơ chế chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu.

Xem thêm: Cải thiện hệ thống pháp luật, thể chế hoạt động ngân hàng
Tiếp tục hỗ trợ quá trình cải cách hệ thống ngân hàng. Thực hiện cải cách triệt để và toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng đối với các hoạt động đa chức năng hiện đại, đa dạng về hình thức, quy mô hoạt động và nguồn lực tài chính mạnh mẽ để tăng cường vị thế của mình trong khu vực.

Tập trung phát triển các tổ chức tín dụng năm 2010 vẫn tiếp tục thực hiện các biện pháp tái cơ cấu tài chính và mô hình hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước, dần dần cổ phần hóa theo nguyên tắc thận trọng, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần và tham gia quản trị ngân hàng Việt Nam.

Cần đổi mới cơ chế quản lý cơ bản cho các tổ chức tín dụng theo hướng tăng cường quyền tự chủ tài chính, bộ máy và cán bộ, từng bước áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động ngân hàng. Tăng cường năng lực thể chế và mở rộng quan hệ đại lý và mở rộng hợp tác kinh doanh với các tổ chức tài chính nước ngoài để phát triển các sản phẩm và dịch vụ và thực hiện các ứng dụng công nghệ, cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.

Thực hiện các cam kết gia nhập WTO, tiếp cận thị trường NH lộ trình công bố như một ngân hàng nước ngoài muốn mở chi nhánh tại Việt Nam phải có tổng tài sản hơn tỷ $ 20.
Ngoài ra, cần phải tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng phát triển để chủ động trong hội nhập.

Hội nhập kinh tế quốc tế chủ động trong các lĩnh vực ngân hàng theo lộ trình và tốc độ phù hợp với khả năng của hệ thống ngân hàng của Việt Nam, chủ yếu là khả năng cạnh tranh của các tổ chức tín dụng và khả năng quản lý, hệ thống Ngân hàng Nhà nước kiểm soát;

Thực hiện tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng lộ trình cam kết Hiệp định NHTM Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định khung về thương mại và dịch vụ ASEAN (AFAS); thực hiện đồng thời các cam kết gia nhập WTO theo yêu cầu của WTO / GATS;

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật theo các cam kết mở cửa thị trường. Dần dần nới lỏng tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng (trong nước và nước ngoài) cho cả nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ ngân hàng (trong nước và nước ngoài). Tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng tín dụng trong nước với thị trường nước ngoài thông qua các hình thức cung cấp dịch vụ trong khuôn khổ WTO, đặc biệt là sự hiện diện thương mại và cung cấp qua biên giới;

Tham gia vào các điều ước quốc tế, các diễn đàn khu vực và ngân hàng và tiền tệ quốc tế. Phát triển hợp tác đa phương và song phương trong lĩnh vực tiền tệ, NH để tận dụng lợi thế về vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến của nước ngoài; phối hợp với các cơ quan thanh tra, giám sát tài chính để phát hiện, ngăn chặn, ngăn chặn và xử lý rủi ro trên toàn khu vực và trên toàn cầu.

Phát triển hệ thống tài chính ngân hàng thương mại Việt Nam

Tăng cường quản lý rủi ro, hệ thống ngân hàng thương mại

Tăng cường quản lý rủi ro, hệ thống ngân hàng thương mại

Luận án AZ: Giải pháp để nâng cao hệ thống quản lý rủi ro các giải pháp ngân hàng thương mại bao gồm những điều sau đây:

Hệ thống quản lý rủi ro trong ngân hàng thương mại trong những năm gần đây đã được quan tâm đến một mức độ nhất định, nhưng do hệ thống thể chế và kỹ thuật hạn chế không thể đáp ứng các nhu cầu phức tạp Journal của một ngân hàng thương mại hiện đại hoạt động trong môi trường nguy hiểm và không đầy đủ như Việt Nam. Trong thời gian gần đây, cùng với quá trình tự do hóa mức độ rủi ro tài chính đang ngày càng tăng, đặc biệt là rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản. Vì vậy, cùng với các hệ thống thông tin quản lý ngân hàng thương mại nâng cấp NN nên phát triển các chiến lược và quy trình xử lý rủi ro đối với toàn bộ hoạt động. Các rủi ro chung trong hoạt động ngân hàng nên được dành để trang trải quỹ rủi ro ở phần đầu của việc thực hiện của sản phẩm.

Yếu tố ảnh hưởng tỷ giá hối đoái

Giá phân loại
Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Nghiên cứu về tỷ giá hối đoái lựa chọn chế độ
Phát triển công nghệ hệ thống ngân hàng thương mại
Thiết lập và duy trì một cơ chế kiểm tra, kiểm toán nội bộ thích hợp và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Kiểm soát nội bộ tốt để tạo điều kiện nhanh chóng phát hiện và ngăn ngừa các sai sót và gian lận trong hoạt động tín dụng. Cũng góp phần cải thiện các quy trình quản lý rủi ro và giải pháp.

Xem thêm: Sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng của Việt Nam

Các ngân hàng thương mại cần cải thiện cơ chế kiểm tra, hệ thống kiểm toán nội bộ cho đơn vị của mình trên cơ sở các quy định khung về các yêu cầu tối thiểu cần thiết cho việc kiểm tra hàng hóa và thương mại ngân sách kiểm toán nội bộ do Ngân hàng Nhà nước. Dựa trên các nguyên tắc của Ủy ban Basel, đã lựa chọn các ứng dụng sáng tạo các điều kiện cụ thể của nước ta ban hành các nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho việc đánh giá việc kiểm toán nội bộ kiểm tra cơ chế của tất cả các giao dịch và ngoại bảng của ngân hàng thương mại.

Hoạt động kiểm soát nội bộ có hai phương pháp chính là kiểm tra trực tiếp và hệ thống đánh giá giám sát gián tiếp thông qua các mục tiêu hoạt động. Những phương pháp này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Dựa trên kết quả kiểm tra trực tiếp trên nền tảng này thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán và phương pháp phân tích và đánh giá gián tiếp thông qua hệ thống phân tích các chỉ số hoạt động sẽ trở nên chính xác và tin cậy hơn, qua đó tạo nên một kênh giám sát có hiệu quả với các hoạt động của ngân hàng. Bên cạnh các hoạt động kiểm soát nội bộ cần được thực hiện kết hợp với kiểm toán độc lập, sự phối hợp của các kiểm soát bên trong kiểm toán bên ngoài sẽ nghiêm hạn chế đến mức tối thiểu nguy cơ che dấu, do đó giảm thiểu các thiệt hại gây ra.

Các ngân hàng thương mại nên xác định tiêu chí để theo dõi, kiểm tra và chế độ báo cáo.

Hiệu năng hệ thống giám sát các ngân hàng thương mại hiện nay quá nghiêm trọng tại địa điểm kiểm tra, thanh tra coi thường giám sát từ xa và kiểm toán nội bộ. Ý nghĩa của việc giám sát từ xa và các hoạt động kiểm toán nội bộ đối với các ngân hàng là thông tin được tạo ra, hệ thống tín hiệu cảnh báo để ngăn chặn thất bại quá sớm có thể đến từ nhiều phía cho NH, trong khi hỗ trợ việc của thanh tra xử lý ngay chính, hiệu ứng kịp thời và thiết thực, không bực bội kinh doanh .

Để đạt mục tiêu trên các ngân hàng thương mại cần phải tổ chức lại hệ thống phân tích và đánh giá các chỉ tiêu tài chính và các chỉ số khác của vốn cơ bản, giá trị lãi suất thực tế, dự trữ vốn, cho vay và các tài sản khác để điều chỉnh sự giám sát quản lý kịp thời. Mặt khác để điều chỉnh và cải thiện chất lượng của kiểm toán nội bộ từ quá trình kiểm toán để xác thực và độ tin cậy của các thông tin, các chỉ số tài chính cũng như các khuyến nghị để cải thiện tài chính quản lý (tư vấn), bồi dưỡng thanh tra, kiểm toán theo tiêu chuẩn quốc tế. Thực hiện nghiêm túc các báo cáo tài chính, thống kê và báo cáo khác theo quy định, hiện đại hóa hệ thống thông tin quản lý (MIS) để nâng cao năng suất và hiệu quả xử lý thông tin.

Quản lý rủi ro tín dụng


Tổ chức lại mô hình quản lý tín dụng trong nhóm S, có thể phân loại chính sách khoa học cụ thể và phân cấp quản lý của các chi tiết của từng nhân viên cho vay.

Quá trình thẩm định dự án hiện đại hóa, các phần mềm ứng dụng phục vụ cho công tác thẩm định. phân tích tài chính, tiếp cận thông tin, thực hiện hệ thống để các cấp quản lý tín dụng cần thiết.
Dành kinh phí thích đáng để đào tạo và đào tạo lại kỹ năng tín dụng đặc biệt của phân tích tài chính, mô hình tín dụng, thẩm định dự án, tiếp thị, nghiên cứu thị trường và một số kỹ năng khác cho một số lượng lớn các khoản tín dụng khoa học.

Nghiên cứu tổ chức đánh giá hoạt động của KH KH đặc biệt lớn, trên cơ sở đó hạn mức tín dụng cốt liệu xây dựng cho một ngành công nghiệp hoặc khoa học cụ thể, đánh giá sự phù hợp của các khoản tín dụng và hạn mức tín dụng, tín dụng và tiến hành đánh giá lại trước khi thời hạn của các khoản nợ vay hoặc gia hạn.

Phân loại các khoản cho vay và phương thức cung cấp cho phù hợp với quy định của nghiên cứu SB và kiến nghị với các ngân hàng trung ương trong khu vực này theo thông lệ quốc tế để kịp thời bổ sung, sửa đổi.

Xây dựng một hệ thống đo lường rủi ro tín dụng, tín dụng chấm điểm hệ thống phù hợp với mục tiêu lợi nhuận và khả năng của các ngân hàng chấp nhận rủi ro.

Tổ chức đánh giá thường xuyên về chất lượng tín dụng để có biện pháp kịp thời điều chỉnh các hạn mức tín dụng cho kế hoạch.

Thiết lập các giới hạn bảo lãnh tín dụng cho từng kế hoạch, quy trình đánh giá được ban hành bảo đảm tương tự trên các khoản vay, lập tài khoản quản lý quy trình tờ chính xác và toàn diện, đặc biệt là ở cấp chi nhánh.

Quản lý rủi ro thanh khoản

Tăng cường nghiên cứu và phân tích kinh tế nhằm ngăn ngừa rủi ro thanh khoản từ xa.

Xây dựng quy trình phân tích mức độ thanh khoản của các chi nhánh, đồng thời thay đổi hệ thống thanh khoản tính theo hạn ngạch hiện cố định bởi dòng chảy của các dòng thanh khoản trong hoạt động tín dụng.

Đa dạng hóa các loại hình tiền gửi KH để ổn định thanh khoản. Đối với S lớn có ảnh hưởng trực tiếp đến thanh khoản yêu cầu cam kết mạnh mẽ về tiến độ thực hiện của doanh nghiệp để tránh biến động lớn trong quản lý thanh khoản.

Phát triển kế hoạch dự phòng thanh khoản hợp lý.

Quản lý rủi ro ngoại hối


Thiết lập một hệ thống các giới hạn về hoạt động ngoại hối của các nguồn tài trợ và phòng cho một cơ cấu ngành cụ thể cũng như trạng thái ngoại tệ trên tài sản tài chính.

Đặt giới hạn trên sự chênh lệch cho phép giữa các tài sản và nợ phải trả bằng ngoại tệ đối với từng bộ phận kinh doanh.

Đặt các giới hạn mà các bộ phận kinh doanh có thể được mua vào không có kinh phí trung ương phòng thông báo trước.

Đặt giới hạn về nghiệp vụ ngoại tệ trong phạm vi phòng quỹ Trung ương bao gồm giới hạn theo ngày, qua đêm và giới hạn nhiệm kỳ cho từng đối tác kinh doanh và mỗi nhân viên giao dịch.

Quản lý rủi ro lãi suất


Để báo cáo thống nhất chi tiết về rủi ro lãi suất và thủ tục phân tích, diễn biến lãi suất theo hướng định lượng mức độ rủi ro, dựa trên các giải pháp tăng hoặc giảm lãi suất khi cần thiết.

NH cần có những quy định bắt buộc về đánh giá cụ thể về rủi ro lãi suất đối với một sản phẩm hoặc dịch vụ tín dụng trước khi đưa ra thị trường. Xây dựng quy trình dự báo diễn biến lãi suất trong nước, trên cơ sở đó các ứng dụng của bảo hiểm rủi ro cụ hiệu quả.

Quản lý rủi ro thị trường


Ủy ban quản lý quỹ - tài sản nên tập trung vào giám sát các cấu trúc và thành phần của vốn, tài sản của ngân hàng và quyết định tăng giá và cho vay; quyết định để phát triển và sự kết hợp của vốn và tài sản; đánh giá rủi ro thị trường trong việc giới thiệu các sản phẩm mới ra thị trường.

NH nên xây dựng cơ chế giá nội bộ phản ánh bản chất của hoạt động kinh doanh như là cơ sở cho việc xác định các trung tâm lợi nhuận, việc xây dựng và áp dụng các giá trị đo lường thiệt hại tài sản (hệ số VAR), đưa vào phần mềm quản lý nhà nước, lợi nhuận doanh nghiệp và hạn mức lỗ và giới hạn cho các tổ chức tài chính.

Hoạt động quản lý rủi ro


Vốn rủi ro hoạt động là ít quan tâm đến các loại rủi ro của các ngân hàng thương mại. Nhiệm vụ của các rủi ro hoạt động là để thu thập dữ liệu về hoạt động thua lỗ để quyết định sự mất mát có thể chấp nhận và thiết lập hạn ngạch cho những năm tiếp theo. Dữ liệu phân tích sẽ xác định những lĩnh vực, sản phẩm hoặc quy trình có nguy cơ cao, đảm bảo sự kiểm soát của các lỗ phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân hàng.

Ngoài ra, cần xây dựng một kế hoạch để duy trì một doanh nghiệp toàn diện để tiếp tục hoạt động ngân hàng trong trường hợp có thảm họa hoặc kinh doanh bị gián đoạn do nguyên nhân khách quan. Việc xây dựng kế hoạch này có thể được thực hiện bằng cách gia công phần mềm và tự phát triển hoặc các ngân hàng sẽ thu thập các dự thảo kế hoạch từ các bộ phận, các khu vực nhạy cảm nhất và kế hoạch chung cho cả ngân hàng.

Tăng cường quản trị rủi ro hệ thống ngân hàng thương mại