Thứ Ba, 19 tháng 5, 2015

NHỮNG LÝ DO KHIẾN BẠN THẤT BẠI TRONG VIỆC HỌC TIẾN SĨ

Xét về góc độ bằng cấp, tấm bằng tiến sỹ (Phd) là cấp độ cao nhất trên con đường học thuật. Tuy nhiên, Phd không phải là sự kết thúc mà chính là khởi đầu của nghề nghiên cứu chuyên nghiệp. Trong bài viết này Hotcourses tham khảo và tổng hợp những ý kiến, phân tích về những nguyên nhân thất bại phổ biến trong việc học tiến sĩ từ trang Guardian và bài viết củachị Bùi Thị Bích Liên, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại đại học Monash, đăng trên trang An ninh Thủ đô, để từ đó bạn có thể rút ra kinh nghiệm hữu ích cho bản thân mình.

KHÔNG THỰC SỰ MUỐN LÀM NGHIÊN CỨU

Thực tế, có nhiều người lựa chọn học tiến sĩ như một phương tiện đưa họ đi xa hơn trên con đường sự nghiệp. Đây là lựa chọn hoàn toàn sai lầm, bởi trong khoảng thời gian học tiến sĩ hàng năm trời, khó tránh khỏi việc thay đổi hành trình nghiên cứu, hoặc kết quả nghiên cứu không như dự tính… Nếu không thực sự đam mê và có tố chất thích hợp với nghề nghiên cứu, bạn khó có thể vượt qua quãng thời gian này.

HIỂU CHƯA ĐÚNG BẢN CHẤT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TIẾN SĨ

Đánh giá chưa chính xác về yêu cầu, mục đích của việc nghiên cứu tiến sĩ bao gồm việc 'quan trọng hóa' hay 'đơn giản hóa' những yêu cầu của việc nghiên cứu cũng có thể là lý do dẫn đến việc bạn đi 'chệch hướng'. Tạo được những bước đột phá lớn từ kết quả nghiên cứu là kỳ vọng của nhiều người, nhưng phần lớn đề tài nghiên cứu tiến sĩ chỉ có thể góp một phần hạn chế, chẳng hạn như việc kiểm chứng một lý thuyết đã được chứng mình trong bối cảnh khác. Cố gắng tìm ra một phát hiện to lớn rất đáng hoan nghênh, nhưng bạn cần nhớ: học tiến sĩ cơ bản chính là một quá trình huấn luyện về nghiên cứu, là bước đầu của nghề nghiên cứu chuyên nghiệp, vì thế đừng nên đặt kỳ vọng quá cao về kết quả của công trình nghiên cứu tiến sĩ.

VẤN ĐỀ VỚI SUPERVISOR (NGƯỜI HƯỚNG DẪN)

Hướng dẫn thường xuyên từ supervisor (người trực tiếp định hướng, giám sát và hướng dẫn bạn trong quá trình làm luận án) ngay từ những bước đầu trong hành trình nghiên cứu rất quan trọng, bởi họ sẽ là người đảm bảo bạn không đi lệch hướng. Dù bản thân nghiên cứu sinh mới là người tự tìm tòi, khám phá nhưng nếu đề tài nghiên cứu thiếu sự dẫn dắt của supervisor có thể xảy ra nhiều vấn đề. Chẳng hạn như thay đổi hướng nghiên cứu ở giai đoạn nước rút làm nghiên cứu sinh không viết kịp luận án, hoặc luận án bị kết luận thiếu sự hướng dẫn của supervisor, dẫn tới việc bạn không lấy được bằng tiến sĩ.
Một lý do khác có thể là bản thân người hướng dẫn cũng chưa hiểu đúng bản chất của việc nghiên cứu. Do vậy, việc lựa chọn người hướng dẫn (supervisor) đúng lĩnh vực nghiên cứu của bạn và đặc biệt có phương pháp hướng dẫn phù hợp để hỗ trợ cả  về mặt chuyên  môn và tinh thần là hết sức quan trọng.
Lời khuyên của Hotcourses: bạn nên tích cực chủ động trong việc giữ liên lạc với supervisor, hơn là để supervisor tự liên lạc với mình.

TRỤC TRẶC VỚI LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Không hoàn thành luận án, hoặc luận án không được duyệt là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong việc học tiến sĩ. Rất ít người đã từng viết một đề tài nào dài như luận án tiến sĩ trước kia. Việc đút kết toàn bộ công trình nghiên cứu 3-4 năm và trình bày ý tưởng vào một tác phẩm lớn như vậy là thách thức với nhiều người. Đây thực sự là một bài kiểm tra đòi hỏi năng lực của một tiến sĩ, mà mọi nhà nghiên cứu chuyên nghiệp phải vượt qua. Những vấn đề nghiên cứu sinh hay gặp phải nhất khi viết luận án là: Mới dừng ở mức trình bày số liệu, chưa phân tích và đưa ra nhận xét. Các chương thiếu liên kết, không thuyết phục.

TÌM VIỆC MỚI KHI ĐANG HOÀN TẤT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Một sai lầm khác mà các nghiên cứu sinh tiến sĩ hay mắc phải chính là tìm việc mới khi bước vào giai đoạn viết luận văn. Bởi khi đã đi được gần hết quãng đường, có trong tay số liệu khảo sát, thiết kế quy trình nghiên cứu, thu thập và phân tích số liệu, thật khó để tránh không suy nghĩ rằng công việc còn lại chỉ là việc nhỏ. Tuy nhiên, như đã nói, giai đoạn viết luận là một giai đoạn đòi hỏi nhiều công sức và sự tập trung cao độ. Vì vậy, đây không phải là thời điểm thích hợp để bắt đầu tìm một công việc mới.

CHIA SẺ CỦA CHỊ BÙI THỊ BÍCH LIÊN, NGHIÊN CỨU SINH TIẾN SĨ TẠI ĐẠI HỌC MONASH

Khác với học đại học, hoặc cao học, Phd được biết đến như một “hành trình cô đơn” nơi một mình bạn theo đuổi một hành trình của riêng bạn trong 3-4 năm. Nếu ở những bậc học khác, thầy cô sẽ dậy và truyền kiến thức cho bạn thì với Phd bạn cần tự vạch ra con đường mình sẽ đi, tự xây dựng kế hoạch để có thể đi hết con đường đó. Tùy thuộc ngành học và chủ đề nghiên cứu, có thể khi kết thúc hành trình bạn sẽ tới một cái đích mà người khác đã từng tới (hoặc biết đến), nhưng bạn buộc phải tới đó trên một con đường chưa ai đi. Phd đòi hỏi tư duy của bạn phải độc lập và sáng tạo tới mức cao nhất mà bạn có thể. Phd thử thách độ bền của tâm lý bạn với muôn vàn cung bậc cảm xúc trong đó không thiếu những lúc bạn cảm thấy tuyệt vọng.
Nhiều người thường giả định tiếng Anh tốt + kinh nghiệm học thạc sỹ ở một nước nói tiếng Anh, tôi sẽ không có khó khăn gì học phD. Đó là một giả định sai lầm. Phd là thử thách lớn ngay cả với người bản ngữ. Tại một hội thảo đầu tiên giành cho sinh viên Phd mà tôi tham dự, tôi được nghe các bạn đi trước kể về những kinh nghiệm “rất đáng ngại” của họ trong quá trình nghiên cứu như việc phải thay đổi giáo viên hướng dẫn và thay đổi hướng nghiên cứu giữa chừng.
Những thông tin mà tôi kể ra ở đây hoàn toàn không nhằm mục đích ngăn bạn không lựa chọn Phd. Quyết định của bạn vẫn sẽ là của bạn. Tuy nhiên, Phd cũng là “một nghề” và cái nghề đặc biệt này đòi hỏi một số tư chất nhất định. Cũng giống như việc bạn chỉ nên theo đuổi nghiệp cầm ca nếu bạn có một giọng hát tốt, bạn chỉ nên làm nhà văn nếu bạn có óc tưởng tượng, và khả năng sử dụng ngôn từ tốt để diễn tả ý nghĩ của mình. Trước khi tìm kiếm những thông tin về học bổng và lao đầu vào “nghiên cứu” các thủ tục của nhà tài trợ, bạn hãy tự hỏi mình xem bạn có phải là người tò mò, và thích quan sát, tìm hiểu về thế giới xung quanh không? Bạn có hay tự hỏi mình những câu hỏi “như thế nào” và “tại sao” không? Nếu bạn quan tâm tới các ý tưởng thì có nghĩa là bạn có tiềm năng cho việc học Phd. Một yếu tố quan trọng khác không thể thiếu là sự quyết tâm. Chúc các bạn sáng suốt, và thành công với lựa chọn của mình.
Bài viết tổng hợp từ Guardian & Anninhthủđô

VỀ VẤN ĐỀ HỌC VỊ TIẾN SĨ

VỀ VẤN ĐỀ HỌC VỊ TIẾN SĨ (*)
Trần Văn Thọ
Giáo sư kinh tế học, Đại học Waseda, Tokyo
Thật là đáng buồn, đáng lo khi thấy văn bằng tiến sĩ ở Việt Nam tiếp tục là đối tượng bị chế giễu trong thiên hạ nhưng người ta vẫn tiếp tục đổ xô vào việc lấy bằng và nhà nước vẫn tiếp tục cho đào tạo và cấp bằng nầy (**).
Nhân dịp về giảng dạy trong nước từ cuối năm 1996 đến giữa năm 1997, tôi đã tham dự 8 buổi bảo vệ luận án phó tiến sĩ (sau đó văn bằng nầy được tự động chuyển thành tiến sĩ) và đã thấy rõ nguy cơ của việc đánh giá văn bằng nầy ở VN. Tôi đã nêu ý kiến và đưa kiến nghị cụ thể về vấn đề nầy trên mục Ý kiến nhà khoa học của báo Nhân Dân số ra ngày 17/7/1997. Theo yêu cầu của Vụ trưởng Vụ đào tạo sau đại học (Bộ Giáo dục và đào tạo), tôi cũng có dịp thuyết trình về đề tài nầy tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ngày 6/3/2000. Thế nhưng tình hình sau đó không những không được cải thiện mà có vẻ còn trầm trọng hơn (***).
Bản chất của vấn đề là gì? Làm sao để chấm dứt tình trạng hiện nay? Tôi xin phát biểu thêm một số ý kiến (chủ yếu về lãnh vực kinh tế học) và đưa ra vài kiến nghị cụ thể.
Những vấn đề lớn của VN là hiểu chưa đúng về chuẩn mực của luận án tiến sĩ nói riêng và trình độ của người được cấp bằng tiến sĩ nói chung, cơ chế đào tạo quá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn không được quy định nghiêm túc, chưa xác lập được cơ chế đánh giá khách quan về luận án tiến sĩ và suy nghĩ sai về ý nghĩa của văn bằng nầy...
Thế nào là một luận án tiến sĩ?  
Trình độ của người được cấp bằng và chuẩn mực khách quan của luận án Tiến sĩ là gì? Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Người được cấp bằng tiến sĩ do đó phải am hiểu các lý luận cơ bản, các khung phân tích trong ngành mình (trong kinh tế học đó là kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô), và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lý luận và những tiến triển nghiên cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của mình (chẳng hạn kinh tế phát triển, kinh tế quốc tế, kinh tế lao động, v.v.). Những kiến thức cơ bản nầy được trang bị từ các cấp bậc đại học và thạc sĩ nhưng ở bậc tiến sĩ phải được tiếp tục ở trình độ cao hơn và nhất là phải có cơ chế kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm cho ứng cử viên học vị nầy hội đủ các điều kiện đó.
Trình độ của ứng cử viên tiến sĩ được thử thách và được nhân lên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật (academic) trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai là tính độc sáng (originality), luận án phải đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.
Cần nói thêm rằng đòi hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lý luận và luận án là bằng chứng cho thấy ứng cử viên tiến sĩ có trình độ nghiên cứu độc lập, chứ không đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tế (dĩ nhiên nếu kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn thì càng tốt nhưng đó là thứ yếu). Sau khi lấy bằng tiến sĩ, tuỳ theo nhu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tại VN, chí ít là trong lãnh vực kinh tế, hình như đa số hiểu sai về ý nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở VN thường là ‘”Những giải pháp để…” (chẳng hạn, những giải pháp để huy động vốn trong dân, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hoá, v.v..). Huy động vốn, đầu tư nước ngoài tại VN,. v..v dĩ nhiên có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vần đề có tính cách lý luận chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế. Ở VN, được biết nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ tốn hàng tỉ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu nhưng ít có công trình trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn mà tại sao lại kỳ vọng ở công trình của một người với phí tổn đào tạo chưa tới 3 triệu đồng 1 năm? (****)
Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở VN chỉ làm cho luận án tiến sĩ thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt được tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành.
Học và nghiên cứu như thế nào để viết được luận án tiến sĩ?
Ở nước ngoài, để có đủ kiến thức nhận tư cách ứng viên và để viết được luận án tiến sĩ có đủ tính học thuật và tính độc sáng, nghiên cứu sinh phải tập trung học liên tục và rất vất vả trong nhiều năm. Tôi xin kể trường hợp của 2 sinh viên mà tôi đã hướng dẫn bảo vệ thành công luận án tiến sĩ 2 năm qua. Sinh viên Trung Quốc lấy tiến sĩ năm 2002, là sinh viên du học tự túc nên phải làm thêm mỗi tuần 2 ngày nhưng 5 ngày còn lại tập trung học, nghiên cứu và đã mất tất cả 5 năm sau khi lấy bằng thạc sĩ và thi đỗ vào bậc tiến sĩ. Sinh viên Việt Nam bảo vệ thành công luận án tiến sĩ đầu năm 2003, có học bổng của chính phủ Nhật nên chuyên tâm vào việc học và làm luận án, nhưng cũng mất 4 năm. Trừ những kỳ nghỉ hè, nghỉ Tết, hằng tuần tôi có trách nhiệm mở lóp hướng dẫn nghiên cứu gọi là seminar và tất cả các nghiên cứu sinh học với tôi (thuộc nhiều năm học khác nhau trong hai bậc thạc sĩ và tiến sĩ.) đều phải tham dự. Mỗi tuần có 1 hoặc 2 nghiên cứu sinh báo cáo về sự tiến triển của đề tài nghiên cứu của mình, các nghiên cứu sinh khác tham gia thảo luận để vừa giúp bạn gợi mở các ý tưởng mới vừa tham khảo phương pháp luận nghiên cứu và thông tin về động hướng nghiên cứu của từng đề tài mà giáo sư hướng dẫn chỉ ra cho người báo cáo. Nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ trong năm đầu phải theo học nhiều môn cơ bản và chuyên môn liên hệ với nhiều giáo sư khác, song song với việc tham gia seminar của giáo sư hướng dẫn mình để từng bước xây dựng đề cương nghiên cứu. Việc xây dựng đề cương là quá trình lao động vất vả nhất vì đề cương phải cho thấy luận án khi hoàn thành sẽ có đủ 2 tính chất học thuật và độc sáng nói trên. Các nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ cứ độ vài ba tháng báo cáo trong seminar một lần và khi cần thiết đến phòng nghiên cứu của giáo sư để được hướng dẫn thêm. Nhiều sinh viên không xây dựng được đề cương, cuối cùng phải bỏ cuộc.
Ở Việt Nam, việc học ở bậc tiến sĩ quá đơn giản. Tại một cơ sở đào tạo nọ, nghiên cứu sinh chỉ phải học 3 chuyên đề và được biết trong mỗi chuyên đề thầy giáo (đa số là phó giáo sư) chỉ giảng 1 ngày sau đó nghiên cứu sinh tự làm các tiểu luận liên hệ (các chuyên đề nhiều khi cũng chỉ là những vấn đề thực tế, không nhất thiết là chuyên đề giúp cho nghiên cứu sinh nắm vững hơn về mặt lý luận và phương pháp luận nghiên cứu. Đây cũng là hệ quả tất yếu khi luận án tiến sĩ không đòi hỏi phải có tính học thuật). Quan hệ với giáo sư hướng dẫn cũng lỏng lẻo (vấn đề giáo sư hương dẫn sẽ nói thêm sau). Cũng vì việc học không đòi hỏi sâu về mặt lý luận và luận án không đòi hỏi có tính học thuật và độc sáng nên nhiều người học tại chức cũng có thể bảo vệ “thành công” luận án trong 3-4 năm. Ở nước ngoài khó có thể tưởng tượng được là một người đương phải đảm trách công việc quản lý xí nghiệp hay quản lý nhà nước mà chỉ trong 3-4 năm có thể lấy được bằng tiến sĩ! (trừ trường hợp người đó được biệt phái 3-4 năm để đi học). Ở Nhật thỉnh thoảng có trường hợp một quan chức ở một bộ kinh tế hay ngân hàng nhà nước bảo vệ thành công luận án tíến sĩ nhưng đó là trường hợp rất đặc biệt của những người có khả năng nghiên cứu ký luận và công việc hằng ngày của họ cũng liên quan đến nghiên cứu, và nhất là có công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín (cũng cần nói thêm là những quan chức ấy muốn lấy bằng tiến sĩ là để trong tương lai chuyển sang nghề dạy học hoặc nghiên cứu ở các viện, chứ văn bằng không liên quan gì đến việc đề bạt ở các cơ quan quản lý).
Về giáo sư hướng dẫn viết luận án tiến sĩ
Để cho dễ hiểu tôi mạn phép bắt đầu bằng trường hợp cụ thể của tôi. Tôi phụ trách dạy môn kinh tế ngoại thương và môn kinh tế chuyển đổi (từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường) cho sinh viên bậc đại học và phụ trách dạy môn kinh tế phát triển cho sinh viên (nghiên cứu sinh) sau đại học. Nói chung phạm vi chuyên môn của tôi về mặt lý thuyết là kinh tế phát triển và kinh tế quốc tế, và về mặt thực tiễn là kinh tế Á châu. Để cập nhật nội dung các bài giảng, để hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án, và để tiến hành các đề tài nghiên cứu của riêng mình, dĩ nhiên tôi phải theo dõi thường xuyên động hướng nghiên cứu trên thế giới liên quan đến chuyên môn của mình. Ngoài việc theo dõi trên sách và tạp chí chuyên môn, phải thường xuyên tham gia báo cáo, thảo luận tại các hội thảo khoa học, nhất là tham gia các hoạt động của hội khoa học chuyên ngành (Tôi hiện nay là thành viên của Hội kinh tế quốc tế Nhật Bản, Hội kinh tế chính trị Á châu và hai hội khác). Các hội khoa học tại Nhật tổ chức báo cáo khoa học hàng tháng tại vùng mình sinh sống và hằng năm tổ chức đại hội toàn quốc để hội viên (đã được chọn) báo cáo thành quả nghiên cứu của mình.
Nói chung đây là hoạt động thông thường của một giáo sư ở đại hoc Nhật. Nhưng đây mới chỉ là điều kiện cần của một người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ. Điều kiện đủ là công trình, thành quả nghiên cứu của giáo sư đã được đánh giá trong giới khoa học. Ở các đại học lớn mỗi khoa thường có độ 50 giáo sư nhưng chỉ có độ 20 người có tư cách dạy ở bậc tiến sĩ . Tóm lại, điều kiện tối thiểu của một người có tư cách hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án phải là một giáo sư đương nhiệm mà công việc chính là giảng dạy và nghiên cứu tại một đại học hay một viện nghiên cứu. Nếu không là đương nhiệm thì về mặt cơ chế không có tư cách hướng dẫn hay phản biện luận án tiến sĩ, và về mặt thực tế không thể giúp sinh viên chọn một đề tài có tính độc sáng vì người đó không có điều kiện theo dõi những nghiên cứu mới trên thế giới về ngành của mình.
Một điều rất lạ với thế giới nhưng rất phổ biến ở VN là có nhiều vị có học hàm, học vị nhưng đã chuyển sang làm quản lý và các công việc khác không liên quan đến nghiên cứu và giảng dạy lại được mời làm thành viên hội đồng chấm luận án, thậm chí được mời làm giáo sư hướng dẫn cho nghiên cứu sinh. Dĩ nhiên có thể có trường hợp ngoại lệ là các vị đó vẫn tiếp tục phát biểu các công trình nghiên cứu về học thuật trên các tạp chí khoa học, đươc giới khoa học trong ngành đánh giá cao, nhưng trường hợp này rất hiếm và và khó thấy ở các nước khác. .
Cơ chế và phương pháp đánh giá luận án tiến sĩ
Khi các vấn đề về chuẩn mực của luận án, về cơ chế nghiên cứu học tập của sinh viên và về tư cách giáo sư thành viên chấm luận án nói ở trên được giải quyết đúng đắn thì việc đánh giá luận án không còn là vấn đề khó khăn. Hơn nữa, giáo sư hướng dẫn là người chịu trách nhiệm đầu tiên về việc đánh giá. Không một giáo sư nào thấy luận án của học trò mình chưa đạt tiêu chuẩn khách quan về học thuật và độc sáng mà dám đưa ra hội đồng bảo vệ. Có thể còn nhiều dư địa để cải thiện hơn nữa mà giáo sư hướng dẫn không thấy hết nhưng ít nhất 2 tiêu chí nói trên của luận án tiến sĩ được xem là đạt rồi mới cho bảo vệ. Trên cơ sở đó, các giáo sư khác trong hội đồng, cũng trên uy tín của mình, phải đánh giá thẳng thắn. Ở đây không cần bảo vệ kín mà vẫn giữ được sự khách quan là vì vậy. Cần nói thêm nữa là trong quá trình chuẩn bị luận án, nghiên cứu sinh được báo cáo trước hội đồng chấm luận án một hoặc hai lần trước khi bảo vệ cuối cùng ít nhất là 1 năm để nhận các ý kiến hướng dẫn cho giai đoạn tới.
Ngoài ra, để bảo đảm tối đa sự khách quan của việc đánh giá, ở Nhật và các nước tiên tiến khác đặt cơ chế xã hội hoá việc đánh giá trước khi cho nghiên cứu sinh bảo vệ. Có hai hình thức xã hội hoá. Một là để được bảo vệ cuối cùng, nghiên cứu sinh phải có ít nhất 2 hoặc 3 (tuỳ trường đại học) công trình liên quan đến luận án đăng ở các tạp chí có thẩm định (referee). Tạp chí có thẩm định là tạp chí khi ban biên tập nhận bài xin gửi đăng sẽ gửi bài đó (thường là sau khi che dấu tên người viết) đến ít nhất 2 nhà nghiên cứu cùng ngành để nhờ thẩm định. Tên tuổi của những người thẩm định dĩ nhiên không được công bố. Người thẩm định sẽ dựa trên tiêu chuẩn học thuật và tính độc sáng của bài viết khi đưa ra quyết định đăng hay không. Các bài viết đăng ở các tạp chí không có chế độ thẩm định khách quan nầy không được xem là công trình nghiên cứu.
Một hình thức nữa là cho nghiên cứu sinh báo cáo trước đại hội toàn quốc hằng năm của ngành chuyên môn (Tôi đã cho sinh viên Trung Quốc và sinh viên VN nói trên ra báo cáo kết quả nghiên cứu tại Hội nghiên cứu chính trị và kinh tế Á châu). Ở Nhật nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ có thể trở thành thành viên của các hội khoa học. Để được báo cáo, nội dung tóm tắt của luận án phải được thông qua ở ban tổ chức đại hội. Điều quan trọng là trước mặt các nhà khoa học trên toàn quốc, luận án của học trò mình bị chê là không độc sáng hoặc thiếu sót lớn về mặt khoa học thì người chịu tai tiếng đầu tiên là giáo sư hướng dẫn. Trong trường hợp đó, về mặt khách quan, xem như nghiên cứu sinh ấy không thể bảo vệ ngay ở đại học được nữa mà phải nghiên cứu thêm..
Dưới cơ chế đào tạo nói trên và sau khi đã xã hội hoá việc đánh giá, cuộc bảo vệ cuối cùng đương nhiên sẽ đưa lại kết quả tốt. Cần nói thêm rằng trong khi nêu ý kiến đánh giá của mình trong hội đồng, không có giáo sư nào phát biểu những câu như “luận án nầy văn phong sáng sủa, bố cục chặt chẽ,…”. mà chỉ xoay quanh tính học thuật và tính độc sáng của luận án. Ngay cả trường hợp nghiên cứu sinh người Trung Quốc và người VN của tôi viết và bảo vệ luận án bằng tiếng Nhật cũng không có ai khen theo kiểu như vậy. Có dịp tham dự mấy buổi bảo vệ tại VN, tôi rất ngạc nhiên khi nghe những câu đánh giá như vậy và có cảm tưởng như người phát ngôn đương nói về một luận án tốt nghiệp đại học.
Vài lời kết và kiến nghị
Việt Nam phải đứng trước một sư chọn lựa giũa hai con đường: (1) Duy trì cơ chế hiện tại, tiếp tục sản xuất bằng tiến sĩ theo tiêu chuẩn của riêng mình, và văn bằng nầy xem như hàng nội địa chỉ tiêu thụ tại nước mình. (2) Xem học vị tiến sĩ sản xuất trong nước phải tương đương hoặc gần như tương đương với văn bằng ở nước ngoài.
Nếu chọn con đường thứ hai thì tôi đề nghị như sau:
Thứ nhất, cần đặt lại vấn đề chuẩn mực của luận án tiến sĩ, nhấn mạnh tính học thuật và tính độc sáng phải có của một luận án tiến sĩ.
Thứ hai, tham khảo các trường hợp điển hình ở nước ngoài, rà soát lại các tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn làm luận án và các cơ sở được phép đào tạo tiến sĩ theo hướng nâng cao hẳn các tiêu chuẩn để theo gần với nước ngoài.
Thứ ba, người có học hàm học vị cao nhưng không phải là giáo sư đương nhiệm ở đại học hoặc cơ quan nghiên cứu thì không được phép tham gia hội đồng đánh giá luận án.
Thứ tư, 3 điểm nói trên thực hiện triệt để sẽ thấy rằng VN hiện nay chưa đủ điều kiện để đào tạo và cấp hàng loạt văn bằng tiến sĩ, do đó vấn đề tiếp theo là chuẩn bị cơ chế và nhân tài để 10 năm tới có thể đào tạo nhiều hơn văn bằng nầy.
Thứ năm, không xem văn bằng tiến sĩ là một trong những tiêu chuẩn để đề bạt ở các cơ quan quản lý của nhà nước hoặc các cơ quan khác. Không cấp kinh phí và không tạo các điều kiện khác cho cán bộ đi học tại chức bậc tiến sĩ.
Ta có thể tự hào rằng giới trẻ VN rất thông minh. Nhiều nghiên cứu sinh người VN thành công xuất sắc trong việc bảo vệ luận án tiến sĩ tại Nhật. Tôi cũng đã gặp nhiều bạn trẻ lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, ở Úc, …về đương làm việc tại Hà Nội , Thành phố Hồ Chí Minh,.. hầu hết rất giỏi. Nếu ta có cơ chế, chính sách đúng đắn, trong tương lai tại VN cũng sẽ có nhiều tiến sĩ tài giỏi.
 .........................................

(*) Bài đã đăng trên báo Tia Sáng số tháng 9 năm 2003
(**) Tôi chủ yếu làm việc ở nước ngoài, chỉ đọc định kỳ một số báo nhất định và chỉ riêng 2-3 năm gần đây cũng đã thấy các bài viết sau: (1) Văn Như Cương, 10 lời khuyên cho những ai muốn làm luận án Tiến sĩ (Tía Sáng, 2/2001), (2) Thanh Thảo, Có bằng mà cậy chi bằng (Văn Nghệ, 3/8/2002), (3) Lê Minh Phúc, Ông ấy là Tiến sĩ (Văn Nghệ, 20/7/2002), (4) Lưu Quang, “Tiến sĩ giá rẻ” (Lao động cuối tuần (3/11/2002).
(***) Từ sau năm 1998 đến nay, tôi có tham dự 2 buổi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Hà Nội và có dịp đọc 3,4 luận án khác.
(****) Theo bài báo “Tiến sĩ giá rẻ” nói ở chú thích đầu thì là 2,77 triệu đồng một năm.

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Luận án tiến sĩ: độ dài và tài liệu tham khảo

Mấy tuần trước, một bạn ở Hà Nội viết email hỏi tôi về luận án tiến sĩ ở bên Úc. Câu hỏi cụ thể là (a) luận án tiến sĩ dài bao nhiêu trang; (c) phần tổng quan tài liệu là bao nhiêu trang; và (c) có bao nhiều tài liệu tham khảo. Tôi đã nói về đề tài này nhiều lần ở nhiều nơi bên VN, nhưng chưa có dịp viết ra cho rõ ràng, nên nhân dịp câu hỏi này tôi viết ra vài ý chính dưới đây.



Luận án tiến sĩ dài bao nhiêu trang?

Đây là câu hỏi nghiên cứu sinh hay hỏi khi bắt đầu viết luận án. Thật ra, chẳng ai đếm số trang, mà người ta thường đếm số chữ. Trong thực tế, chẳng có nơi nào có qui định cứng là luận án tiến sĩ phải bao nhiêu chữ. Chẳng ai điên để ra những qui định như thế, vì phẩm chất học thuật mới là quan trọng, chứ độ dài chẳng có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, nhiều trường (không phải tất cả) thường khuyên nghiên cứu sinh rằng luận án tiến sĩ nên có 80,000 chữ hoặc ít hơn. Trong ngành y, khi tôi hỏi nhiều đồng nghiệp thì họ nói luận án tiến sĩ có số chữ thường dao động trong khoảng 30,000 đến 80,000 chữ. Nếu mỗi trang A4 có 250 chữ (font Times New Roman, size 12, double space), thì tính trung bình mỗi luận án tiến sĩ có khoảng 120 đến 320 trang.

Tôi xem qua các luận án ở Viện Garvan thì quả thật độ dài từ 110 đến 350 trang. Trong nhóm tôi cũng có những luận án ngắn (khoảng 150 trang), nhưng cũng có luận án dài (350 trang). Dĩ nhiên, không có trường nào làm khó nghiên cứu sinh nếu luận án chỉ 80 trang hay 500 trang. Thật ra, như nói trên, độ dài hay số chữ không có gì là đáng chú ý; cái đáng chú ý là thông tin, là dữ liệu khoa học trong luận án. Điều kiện tiên quyết của luận án tiến sĩ là các nghiên cứu nguyên thuỷ (original contribution), những nghiên cứu mà dữ liệu đóng góp vào tri thức của chuyên ngành, chứ không phải số chữ hay số trang.

Tổng quan tài liệu bao nhiêu trang?

Không có qui định cứng là phần tổng quan tài liệu phải bao nhiêu trang (hay bao nhiêu chữ). Tuy nhiên, khi tôi xem qua các luận án ở Viện Garvan và UNSW thì tôi thấy đây là phần dài nhất trong luận án. Luận án có chương tổng quan ngắn nhất cũng 30 trang, và dài nhất là 60 trang! Đa số các luận án y khoa, phần tổng quan là chương dài nhất.

Tôi nghĩ độ dài của chương tổng quan cũng tuỳ thuộc vào đề tài nghiên cứu. Nếu là đề tài "nóng" và mới, thì phần này chắc sẽ ngắn hơn các đề tài có nhiều người làm trước đó. Cái khó khăn của viết phần tổng quan là nếu viết ít và ngắn thì sẽ bị phê bình là chưa điểm qua y văn đầy đủ, nếu viết quá dài (như 60 trang) thì sẽ gây ấn tượng ở người đọc là tác giả chẳng có nhiều đóng góp mới. Do đó, cần phải quân bình giữa hai thái cực có thể gây ấn tượng tiêu cực.

Bao nhiêu tài liệu tham khảo?

Một lần nữa, cũng không có ai đề ra qui định cứng là tài liệu tham khảo của luận án tiến sĩ phải có bao nhiêu tài liệu tham khảo. Một phần là tuỳ thuộc vào chuyên ngành, một phần khác là do đề tài nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến số tài liệu tham khảo. Những đề tài mới thì ít nghiên cứu nên phần này không nhiều, còn những đề tài đã được nhiều người làm thì chắc chắn phần tài liệu tham khảo sẽ nhiều.

Tôi điểm qua các luận án tiến sĩ ở Viện Garvan thì thấy số tài liệu tham khảo dao động trong khoảng 250 đến 400. Ở Khoa Y, UNSW, tôi chưa thấy luận án tiến sĩ nào có dưới 200 tài liệu tham khảo.

Dĩ nhiên, cũng cần phải nhắc lại ở đây là tài liệu tham khảo chủ yếu là các bài báo trên tập san có bình duyệt (peer reviewed papers). Cũng có thể trích dẫn chương sách, nhưng rất hiếm. Càng hiếm trích dẫn abstracts trong hội nghị, bất kể là hội nghị cấp quốc tế hay quốc gia. Trích dẫn chương sách và abstracts trong hội nghị chẳng những làm cho người duyệt luận án khó kiểm tra, nhưng cũng gây ấn tượng không tốt vì có thể là "secondary citation" (trích dẫn thứ phát).

Về thời gian tính, một luận án mà trích dẫn quá nhiều bài báo trên 10 tuổi cũng không được đánh giá cao, vì người duyệt sẽ nghĩ tác giả chưa cập nhật hoá thông tin. Tốt nhất là trích dẫn những bài báo có dưới 5 tuổi, hay dưới 10 tuổi. Cố nhiên, những công trình quan trọng và mang tính lịch sử thì dù 50 tuổi vẫn được trích dẫn như thường.

Nói tóm lại, các đại học Úc không có qui định cứng về độ dài của luận án, hay số trang của chương tổng quan, hay số tài liệu tham khảo. Nhưng trong thực tế thì các luận án tiến sĩ ngành y có độ dài từ 30,000 – 80,000 chữ, chương tổng quan dao động từ 30-60 trang, và số tài liệu tham khảo dao động từ 250 – 400. Nhưng như tôi nói ở trên, đó chỉ là những số liệu thực tế, và nếu luận án dài hơn hay ngắn hơn, thì hội đồng học thuật cũng không bao giờ gây khó dễ. Theo tôi biết luận án các ngành khoa học xã hội cũng có những con số tương tự. Cái yếu tố quan trọng số 1 của luận án tiến sĩ là nội dung mới, chứ không phải hình thức hay độ dài của luận án.

****

Ghi thêm: Tôi thấy hầu hết các luận án tiến sĩ ngành y ở VN chỉ có chừng 110-130 trang, và nội dung khá nghèo nàn. Phần tổng quan thì quá ít. Chỉ có một chương kết quả! Tài liệu tham khảo thì chỉ 60-90. Nhìn toàn cảnh nó giống như luận án cao học hay cử nhân hạng danh dự ngoài này. Sau này tôi mới biết là đây là những qui định cứng của Bộ GDĐT. Hình như còn có qui định phải trích dẫn tài liệu tham khảo trong nước? Thật lạ lùng! Bộ GDĐT sao quá rảnh rỗi để lo mấy chuyện mang tính học thuật này, tại sao không theo các qui ước mà giới khoa học chấp nhận có dễ hơn không.

Quy chế mới trong đào tạo Tiến sĩ

TÓM LƯỢC NHỮNG ĐIỂM MỚI
TRONG QUY CHẾ ĐÀO TẠO TIẾN SĨ

1. Rà soát và xây dựng lại các chương trình đào tạo tiến sĩ

Nội dung chương trình gồm những điểm

1.1 Các học phần bổ sung

- Học phần bổ sung ở trình độ thạc sĩ cho người học chưa có bằng thạc sĩ (27-36 tín chỉ).

- Học phần bổ sung đối với của người có bằng thạc sĩ với ngành gần.

- Học phần bổ sung ở trình độ đại học cho người có bằng đại học còn thiếu môn học và học phần quan trọng cho việc đào tạo tiến sĩ.

1.2. Các học phần tiến sĩ (Học phần tiến sĩ (mỗi học phần 2-3 tín chỉ) gồm học phần bắt buộc và học phần lựa chọn. Một NCS phải hoàn thành 3-5 học phần với tổng số 8-12 tín chỉ)

1.3. Các chuyên đề tiến sĩ (NCS phải hoàn thành 2-3 chuyên đề (1 chuyên đề 2-3 tín chỉ) với khối lượng  từ 4-6 tín chỉ)

- Hội đồng khoa học khoa đề xuất chuyên đề tiến sĩ của từng chuyên ngành đào tạo (2 năm  một lần điều chỉnh và bổ sung) chuyên đề phải được công bố trước khi thi tuyển sinh.

1.4. Tiểu luận về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan

1.5. Đề tài (Nghiên cứu khoa học): Danh sách định hướng nghiên cứu và giáo viên có thể hướng dẫn cho từng chuyên ngành và  được công bố trước khi tuyển sinh.

1.6. Bài báo công bố: Ít nhất hai bài báo ở tạp chí nằm trong danh mục do Hội đồng TS quy định.

1.7. Luận án tiến sĩ  (trên 50% là phần kết quả nghiên cứu và thảo luận)

- Tóm tắt luận án; Những điểm mới của luận án phải viêt cả tiếng Việt và tiếng Anh

- Khuyến khích NCS viết và bảo vệ luận án bằng tiếng Anh

2. Xét tuyển hàng năm

- Tiêu chuẩn xét tuyển như tiếng Anh, chuyên ngành thạc sĩ, điểm trung bình thạc sĩ, kinh nghiệm công tác, bài báo do Trường quy định.

- Thí sinh phải có thư giới thiệu của hai nhà khoa học.

- Thí sinh phải trình bày bài luận về dự định nghiên cứu trước tiểu ban.

3. Giáo viên hướng dẫn:

- Có bài báo công trình công bố trong 5 năm trở lại đây

- Có tên trong thông báo của cơ sở đào tạo về danh mục đề tài và hướng nghiên cứu

4. Điều kiện tốt nghiệp

- Đảm bảo hoàn thành các học phần tiến sĩ, chuyên đề, tiểu luận tổng quan, đề tài và 2 bài báo. - Tiếng Anh: Khi bảo vệ yêu cầu TOEFL iBT 61 điểm, TOEFL ITP 500 điểm hoặc IELTS 5.0 trở lên, hoặc trình độ xác định chuẩn B1, B2 của khung châu Âu hoặc Trung tâm ngoại ngữ đạt tiêu chuẩn được Bộ Giáo Dục và Đào tạo công nhận.

- Thời gian bảo vệ: NCS có thể được bảo vệ sớm thời gian không nhất thiết phải đảm bảo 2/3. Có thể gia hạn 24 tháng.

5. Hội đồng chấm luận án (do Hiệu trưởng quyết định)

- Hội đồng gồm hai cấp là cấp Bộ môn và cấp Trường.

- Thành viên hội đồng yêu cầu có công trình công bố liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của NCS trong 3 năm gần nhất. Hội đồng không có quá 3 người tại cơ sở đào tạo.

- Luận án đạt yêu cầu khi 6/7 hoặc 5/6 thánh viên bỏ phiếu tán thành.

6. Thẩm định luận án

- Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định luận án thẩm định đảm bảo ít nhất 30% luận án bảo vệ trong năm của cơ sở đào tạo.

7. Cấp bằng

- Sau ngày bảo vệ ít nhất là 3 tháng nếu NCS không bị khiếu nại, tố cáo, không có tên trong danh sách thẩm định của Bộ GD &DT, Hiệu trưởng xem xét cấp bằng cho NCS thông qua hội đồng Khoa học và Đào tạo của trường.