Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam
1. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam trước cách mạng tháng 8-1945
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một thuộc địa nửa phong kiến dưới sự cai trị của người Pháp. Hệ thống tiền tệ, tín dụng được thành lập và hoạt động chủ yếu là cho chính sách thuộc địa của nước Pháp ở Việt Nam. Trong thời thuộc địa, sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ, tín dụng được sắp xếp bởi Chính phủ Pháp, chính phủ của Đông Dương thông qua Ngân hàng Đông Dương đã được thực hiện.
Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng của Việt Nam
Phát triển công nghệ hệ thống ngân hàng thương mại
Các giải pháp để cải thiện hệ thống ngân hàng khả năng tài chính
Phát triển nguồn nhân lực hệ thống ngân hàng
Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng của Việt Nam
Trong số các cổ đông của Ngân hàng Đông Dương, Indo Chính phủ nắm giữ 20% cổ phần (như năm 1931) và lên đến 50% cổ phần trong sức mạnh của những người của Nhà nước Pháp. Nhiều người trong giai cấp tư bản Pháp đã tổ chức một khối lớn cổ phần; Holy Roman và Tổng House cũng có cổ phần tại ngân hàng này. Ngoài ra, Ngân hàng cũng có cổ phần ở Đông Dương của tư bản Anh, Mỹ, Nhật Bản vv ...
2. Đối với chính quyền cách mạng của đồng tiền - tín dụng từ cuộc Cách mạng tháng Tám thành công
Trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lực lượng cách mạng đã không chiếm được Ngân hàng Đông Dương - đại lý độc quyền của Liên bang Đông Dương phát hành tiền là một trong những bất lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám:
"Nó chiếm được Ngân hàng Đông Dương để sau này chính quyền nhân dân đang rơi vào khó khăn tài chính gây ra bởi kẻ thù."
Một thời gian ngắn sau khi chính phủ giành 8/1945, Đảng và Chính phủ đã phát hành tiền để chăm sóc cho việc tạo ra một cơ sở tiền tệ độc lập, tự chủ của đất nước Bắc Việt Nam chuẩn bị phát hành tiền .Công Chính phủ đã giao cho Bộ Tài chính chịu trách nhiệm.
Các chính sách phát hành tiền đã được thực hiện một cách khẩn trương và bí mật. Chỉ trong một thời gian ngắn, "in 10/1945 cơ quan của tháng trước đã bắt đầu in tiền giấy đồng loại 5, đồng 10 và 20 đồng và nhôm dập rãnh tiền và loại 2 5 hào". Đầu tháng 12/1945, nhằm đúng lúc thị trường là những người sống sót lỏng và rách rưới khan hiếm Indochina tiền cản trở việc bán, trao đổi nội địa của đồng tiền đầu tiên Bắc Việt Nam phát động mang kinh tế, chính trị sâu sắc, phù hợp với nguyện vọng của người dân và được nhiệt liệt hoan nghênh.
Ngày 31-1-1946, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18 / B cho phép ghi chú phát hành cho Việt Nam trong khu vực Nam Trung Bộ, từ vĩ tuyến 16, bởi vì có nhiều thuận lợi hơn là, điều kiện kinh tế, chính trị tương đối ổn định, không có nghề nghiệp quân sự nước ngoài . Ở đây, "ở mọi nơi và ngày phát hành đầu tiên của tiền được tổ chức như một ngày hội lớn, các công cụ mở, mọi người đi ăn mừng tưng bừng đồng Việt Nam. Mọi người háo hức lấy thay đổi Indochina tiền giấy" bạc giấy Bác Hồ ". Chính phủ quy định 1 1, nhưng tin tưởng người dân hối đoái của đồng Việt Nam với $ 1 đồng Việt Nam tương đương với 1,2-1,3 đồng Đông Dương ".
Ngày 13-8-1946, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154 - SL, quyết định mở rộng các ghi chú phát hành cho Việt Nam đối với miền Bắc, miền Trung (từ vĩ tuyến 16). Đến tháng 11-1946, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam quyết định phát hành ghi chú cho Việt Nam ở trong nước.
Xem thêm: Sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng của Việt Nam
3. Ngân hàng trong giai đoạn 1951-1990
Đại hội Đảng lần thứ hai (tháng 2/1951) đã đề ra hướng dẫn mới về chính sách tài chính - kinh tế; trong khi chính sách tài khóa có nội dung cơ bản là: chính sách tài chính sẽ phải làm việc chặt chẽ với các chính sách kinh tế, tăng nguồn thu trên cơ sở thúc đẩy sự tăng sản xuất; giảm chi tiêu bằng cách tiết kiệm, chế độ thuế thực hiện dân chủ và quy định ngân sách trung ương, ngân sách địa phương; thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành đồng tiền mới để ổn định tiền tệ, cơ chế tín dụng được cải thiện.
Trên cơ sở đó, sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể được khái quát thành hai giai đoạn:
a) Giai đoạn 1951-1975
* Ở phía Bắc
Ngày 1951/06/05, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 15 / SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam quy định: "Tất cả các công việc của các tín dụng quốc gia Kho bạc Nha Nha và sản xuất chuyển giao cho Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã thực hiện hai chức năng khác nhau: là một trong những hoạt động của Kho bạc, các chức năng khác của Ngân hàng.
Năm 1960, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đã tổ chức một hệ thống thống nhất từ trung ương đến địa phương, độc quyền và quản lý nhà nước. Hệ thống ngân hàng được tổ chức theo mô hình hệ thống Ngân hàng một cấp độ. Hệ thống này tiếp tục tồn tại cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (ngày 30 tháng 4 năm 1975) và đã qua các hệ thống ngân hàng trong các cựu Nam Sài Gòn cho đến năm 1988.
* Ở miền Nam
Ngày 31 tháng 12 năm 1954, Bảo Đại đã ký Quyết định số 48 thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở phía Nam. Từ năm 1954 đến năm 1975, hệ thống ngân hàng ở miền Nam Việt Nam đã được tổ chức theo mô hình của một ngân hàng tư bản chủ nghĩa, mà mô hình một hệ thống ngân hàng hai cấp, vì các nền kinh tế ở miền Nam trong giai đoạn này bao gồm Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và Ngân hàng
nghề.
b) Các giai đoạn 1975-1990
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài nước ngoài đã rút khỏi miền Nam Việt Nam. Nhà nước đã tiến hành quốc hữu hóa hệ thống ngân hàng của chế độ Sài Gòn, và cho việc tư nhân của ngân hàng nhà nước thanh lý tổ chức, bởi vì toàn bộ tài sản của ngân hàng được phân tán và chạy trốn ra nước ngoài. Nói chung, các ngân hàng lại không có khả năng chi trả, tổng số nợ cho người lớn hơn tài sản còn lại.
Đặc điểm của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 1975 - 1988 đã được tổ chức theo mô hình ngân hàng cấp, giống như mô hình ngân hàng từ 1951 - 1975 ở miền Bắc. Vị trí và chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được xác định như sau:
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chỉ là một cơ quan ngang Bộ, đang chịu trách nhiệm quản lý của chính sách tiền tệ và tín dụng của nhà nước, mà còn là một tổ chức kinh doanh theo chế độ kế toán Kế hoạch kinh tế xã hội chủ nghĩa để phục vụ tổ chức và tính kinh tế của sản xuất và phát triển kinh doanh.
- Các chức năng chính của Ngân hàng Nhà nước phân phối tiền tệ và vốn của Việt Nam trong các hoạt động quản lý tiền mặt trong nền kinh tế.
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để thực hiện vai trò trung tâm của tiền mặt, trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán trong nền kinh tế quốc gia.
Như vậy, sau 30 năm, trải qua 02 cuộc chiến tranh giải phóng đất nước từ một trong những tín Nha của tín dụng đầu tiên của nước Việt Nam Bắc, thành lập năm 1947. Nó là tiền thân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với hệ thống các chi nhánh tỉnh, chi huyện gái điếm, đã từng tổ chức tín dụng lớn nhất và duy nhất trong nhiều thập kỷ. Các chức năng chính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế và dân cư để cho vay. Ngân hàng Nhà nước có các cơ quan quản lý tín dụng doanh nghiệp vừa và tiền tệ được tổ chức không vì lợi nhuận.
4. Hệ thống ngân hàng từ năm 1990
Hệ thống ngân hàng trong việc chuyển đổi theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam là đổi mới cơ bản về tổ chức và nội dung hoạt động, từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường với điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
Quá trình cải cách hệ thống có thể được chia thành các bước sau đây:
Bước Một: Quyết định số 07 / HĐBT ngày 04 Tháng 1 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng, nhiệm vụ quản lý quỹ chuyển nhượng của ngân sách Nhà nước và các nguồn dự trữ tài chính của Nhà nước từ Ngân hàng Nhà nước cho các tài chính, thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ tài chính.
Bước thứ hai: May 24, 1990, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ký sắc lệnh công bố hai pháp lệnh: một sắc lệnh rằng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; hai là Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 1990. Theo hai pháp lệnh này, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức gần như hệ thống ngân hàng tại các nước có nền kinh tế thị trường trên thế giới, tức là hệ thống ngân hàng hai cấp.
Bước thứ ba: 26 tháng 12 năm 1997 Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh công bố hai luật ngân hàng, đó là quy luật của Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng.
1 / Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, là cơ quan duy nhất phát hành tiền tệ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VN. Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân có trụ sở tại thủ đô Hà Nội, có các chi nhánh văn phòng nơi trong nước và đại diện cần thiết ở nước ngoài.
- Nhiệm vụ và quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước
Tham gia xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế chiến lược cho xã hội, chính sách liên quan đến việc áp dụng các hoạt động tiền tệ, dự án xây dựng pháp luật hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng.
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng, thực hiện và giám sát việc thực hiện pháp luật về thanh toán tín dụng tiền tệ, các ngân hàng nước ngoài.
Để chơi như một ngân hàng cho tổ chức tín dụng.
Áp dụng các biện pháp quản lý để đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc của hoạt động nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng.
Tổ chức in, đúc tiền bảo quản, dự trữ phát hành, hiệu suất của việc phát hành tiền và quản lý lưu thông tiền tệ.
Tiếp nhận và trả tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, cơ quan nước ngoài và các tổ chức quốc tế, vay ngân sách cần thiết. Đại lý của Kho bạc Nhà nước về việc phát hành trái phiếu ngắn hạn và dài hạn, trả nợ gốc và lãi của trái phiếu.
Quản lý nhà nước về ngoại hối, thành lập cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện các hoạt động trao đổi, mua bán ngoại hối trên thị trường quốc tế.
Bảo quản dự trữ nhà nước về ngoại hối.
Trực tiếp ký kết hoặc ủy quyền việc ký kết một hiệp ước quốc tế về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng.
Đại diện Chính phủ tại các tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế.
Thanh tra các tổ chức tín dụng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng.
Tổ chức tập huấn kỹ thuật trong hoạt động ngân hàng.
- Quan hệ giữa Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng Nhà nước điều hành giấy phép cho tổ chức tín dụng, đảm bảo khả năng chi trả kịp thời, đầy đủ cho các tổ chức tín dụng.
Chiếm tiền gửi mở cho các tổ chức tín dụng; Các khoản cho vay và mua, chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng.
Chỉ trụ sở chính của tổ chức tín dụng không được trực tiếp vay vốn cho các chi nhánh của tổ chức tín dụng.
Tổ chức tín dụng bắt buộc duy trì: tiền gửi dự trữ pháp lý (yêu cầu tiền gửi dự trữ) và các nguồn khác của các khoản thanh toán tiền mặt sẵn sàng, tiền gửi và cho vay các khách hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định bởi pháp luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Luật số 01/97 / QH10 và Luật sửa đổi, bổ sung pháp luật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Luật số 10/03 / QH11.
Tổ chức thanh toán bù trừ giữa các tổ chức tín dụng.
Phát hành và bán trái phiếu và các tổ chức hoạt động thị trường tiền tệ.
- Quan hệ với Kho bạc Ngân hàng Nhà nước.
Mở tài khoản giao dịch cho ngân khố.
Có thể tham khảo ý kiến của Bộ Tài chính làm đại lý cho Kho bạc Nhà nước về phát hành trái phiếu ngắn hạn và dài hạn, thanh toán lãi, vốn gốc trái phiếu trên.
Tham gia lập kế hoạch ngân sách nhà nước.
Ứng viên tiền, cho vay đối với Kho bạc Nhà nước, các tiến bộ và cho vay Kho bạc Nhà nước được bảo đảm bằng trái phiếu kho bạc do Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ có lợi nhuận sẽ liên lạc tới các nước Ngân hàng Nhà nước. Các trái phiếu có thời hạn tối đa theo quy định của Chính phủ và có thể được chuyển giao.
Ngân hàng có thể mua lại các trái phiếu kho bạc với thời gian không quá một năm kể từ tổ chức tín dụng hoặc bán lại các trái phiếu kho bạc cho tổ chức tín dụng.
Bộ máy tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổ chức thành một hệ thống tập trung, thống nhất của bộ máy điều hành và các hoạt động đơn vị tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị trực thuộc khác.
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước quy định của Chính phủ.
Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước Thống đốc quyết định thành lập, chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, các ủy ban, Hội đồng tư vấn về các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước; quyết định thành lập, chấm dứt hoạt động theo thẩm quyền của các đơn vị trực thuộc hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trong lĩnh vực đào tạo và đào tạo lại các dịch vụ ngân hàng, nghiên cứu, thông tin, ngân hàng lý luận khoa học, cung cấp các dịch vụ liên quan đến hoạt động ngân quỹ, dịch vụ công nghệ thông tin và thanh toán ngân hàng , dịch vụ thông tin tín dụng.
Theo văn bản hiện nay Ngân hàng Nhà nước bao gồm 18 phòng ban, chi nhánh 63 ngân hàng nước ngoài tại các tỉnh, thành phố, và các văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh, giúp Thống đốc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và các ngân hàng trung ương chức năng, 04 doanh và doanh nghiệp thuộc các đơn vị kinh doanh.
2 / Các tổ chức tín dụng
Các tổ chức tín dụng hiện nay đang thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm các ngân hàng, tổ chức tín dụng tổ chức tài chính vi mô phi ngân hàng và các quỹ tín dụng nhân dân [57].
Tổ chức tín dụng ở nước ta hiện nay bao gồm:
+ Ngân hàng Nhà nước cho thương mại: là một ngân hàng thương mại được thành lập bởi ngân sách vốn nhà nước 100% bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; Ngân hàng Công thương Việt Nam (cổ phần hóa); Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (cổ phần hóa); Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Ngân hàng Phát triển +: ngân hàng nhà nước được hình thành từ ngân sách nhà nước và được tài trợ bởi các nước khác như ODA để đầu tucho các dự án phát triển kinh tế - kỹ thuật của nhà nước.
+ Ngân hàng Chính sách xã hội là một ngân hàng được thành lập bởi ngân sách nhà nước và một phần của khoản tiền gửi hàng năm của các ngân hàng thương mại Nhà nước chuyển sang (2%) cho các ngân hàng hoạt động không vì lợi nhuận với mục đích vay vốn xóa đói giảm nghèo, sinh viên vay vốn và cho vay đối với người lao động nước ngoài.
+ Ngân hàng thương mại cổ phần là một ngân hàng thương mại được thành lập bằng vốn góp của các cổ đông.
+ Ngân hàng thương mại liên doanh: Ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của cả hai bên tham gia liên doanh. Một bên là các ngân hàng của Việt Nam và một bên là ngân hàng nước ngoài. Liên doanh ngân hàng thương mại có trụ sở tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật của Việt Nam và cũng chịu sự quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
+ Tín dụng hợp tác là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được thành lập với vốn góp từ các thành viên, huy động các nguồn lực của các thành viên và cho các thành viên vay. Hợp tác xã tín dụng hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, phạm vi địa phương theo quy định tại điều lệ chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
+ Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
+ Công ty tài chính: Một công ty nhà nước hoặc cho vay cổ phần chủ yếu là để mua và bán hàng hóa, dịch vụ sử dụng quỹ riêng hoặc mượn của người dân bởi các hóa đơn phát hành và không được nhận tiền gửi tiết kiệm của người dân và không sử dụng vốn vay dân cư như là một phương tiện thanh toán.
Ngoài ra, có những hình thức khác, chẳng hạn như các quỹ tín dụng nhân dân, công ty cho thuê tài chính.
Được xây dựng trong cơ chế chuyển đổi, Pháp lệnh đã không thể đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống tài chính ở Việt Nam trong giai đoạn nửa cuối năm 90. Trong phản ứng, Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng. Trong rung pháp lý cao hơn, Luật Các tổ chức tín dụng đã tạo ra một môi trường pháp lý mới cho sự phát triển của các ngân hàng.
Ngân hàng thương mại mở rộng đối tượng phục vụ cho các ngành kinh tế công cộng, mở rộng thị trường. Nhiều hoạt động Ngân hàng mới được thực hiện như bước đầu hoạt động cầm đồ, chiết khấu giấy tờ có giá, tài chính bán hàng trả góp, cho thuê tài chính, bán đấu giá tín phiếu kho bạc, mua cổ phần của doanh nghiệp góp vốn, ...
Để nâng cao hiệu quả hoạt động, các ngân hàng thương mại bỏ dần trình độ trung cấp, các hoạt động chính sách từng bước riêng biệt và hoạt động thương mại, tăng độc lập tương đối cho các chi nhánh, đổi mới công nghệ in đậm phù hợp với yêu cầu quản lý kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, các công ty con tạo ra ban đầu để triển khai kinh doanh mới.
Ngân hàng lớn thường có nhiều chi nhánh, sở hữu nhiều công ty, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, thị trường và có thể có nhiều chi nhánh ở nước ngoài. Ngân hàng lớn là ngân hàng cung cấp dịch vụ bán buôn với các khách hàng lớn (Tổng công ty, tập đoàn kinh tế, ...). Do đó, cơ cấu tổ chức của ngân hàng với tính chất chuyên môn cao. Trong phòng chuyên môn tập trung các chuyên gia tư vấn, nghiên cứu thị trường, công ty phân tích tài chính, ngành, quốc gia, các chuyên gia về cho vay, chứng khoán, luật pháp, nguồn nhân lực, công nghệ, ...
Tổ chức bộ máy của các ngân hàng lớn cũng được phản ánh trong cơ cấu tổ chức của các đơn vị thành viên. Các chi nhánh ngân hàng lớn cũng được phản ánh trong cơ cấu tổ chức của các đơn vị thành viên. Các chi nhánh của các ngân hàng lớn, gồm các phòng chuyên môn như các công ty tín dụng, tín dụng tiêu dùng, thẩm định và bảo lãnh phát hành, kế toán và thanh toán quốc tế, ủy thác, ...
Các ngân hàng nhỏ thường ít hoặc không có chi nhánh, hoạt động trong phạm vi địa phương, hoạt động kém đa dạng. Để thích ứng với quy mô nhỏ, thu nhập thấp, các ngân hàng nhỏ thường xuyên tổ chức bộ máy gọn nhẹ, mỗi phòng có thể giữ một số nhiệm vụ, ví dụ như văn phòng tín dụng đã cho vay tiêu dùng doanh nghiệp vừa, đã phân tích các dự án, ... ngân hàng nhỏ đòi hỏi mỗi cán bộ phải thành thạo
nhiều việc. So với các ngân hàng lớn, các mối liên hệ giữa khả năng kiểm soát chặt chẽ hơn căn phòng nhỏ của ngân hàng của ban giám đốc cho các bộ phận cao
Lịch sử và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam