Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Thuyết minh về chiếc áo dài việt nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những văn hóa, nét đặc trưng của từng vùng miền và trang phục truyền thống riêng. Phụ nữ Nhật tự hào với Kimono, phụ nữ Hàn Quốc nổi tiếng với Hanbok, phụ nữ Ấn Độ để lại cho ta ấn tượng rất đặc biệt với bộ Sari. Còn phụ nữ Việt Nam, từ xưa đến nay vẫn mãi song hành với chiếc áo dài duyên dáng và thướt tha.

Cho đến nay, vẫn chưa biết được nguồn gốc chính xác của chiếc áo dài. Nhưng nối ngược dòng thởi gian, tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài với hai tà áo thướt tha đã được tìm thấy ở các hình khắc mặt trống đồng Ngọc Lũ cách đây vài nghìn năm.

Áo dài có rất nhiều loại. Nhưng sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giai lãnh: cũng giống như áo tứ thân nhưng khi ,mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Vì sau này, phụ nữ phải làm việc đồng áng hay buôn bán nên áo giai lãnh được thu gọn lại thành áo tứ thân: gồm bốn vạt nửa trước phải, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái. Nhưng với những người phụ nữ tỉnh thành nhàn nhạ, muốn có một kiểu áo dài dược cách tân thế nào đó dể giảm chế nét dân dã lao động và tăng dáng dấp sang trọng, khuê các. Thế là áo tứ thân được biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay lại được thu bé trở lai thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước trở thành áo ngũ thân.

Xem thêm : Thuyết trình về chiếc áo dài Việt Nam

Ngoài ra còn áo dài Le Mor của một họa sĩ vào đầu thập niên 1930, áo dài Lê Phổ của họa sĩ Lê Phổ được thiết kế vào năm 1934, áo dài với tay giác lăng vào thập niên 1960, áo dài miniraglan danh cho các nữ sinh…

Khác với Kimono của Nhật Bản hay Hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại vừa hiện đại, có thể mặc ở mọi lúc mọi nơi: dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc để tiếp khách trang trọng trong nhà… Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kì, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài guốc, hay giày đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm ái dài và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hay một chiếc miện Tây tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.

Áo dài có thể nhiều màu nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn là chiếc áo dài trắng thể hiện sự thuần khiết của người phụ nữ Việt Nam. Trong trường học, không gì đẹp mắt và thanh bình cho bằng mỗi sáng, từng nhóm nữ sinh trong bộ áo dài, thướt tha, xõa tóc dài chạy xe đạp đến trường. Cũng nơi đó, những cô giáo, những người mẹ thứ hai của các học sinh nhẹ nhàng đón rón những đứa con của mình trước giờ vào học trong chiếc áo dài mới thực sự toát lên vẻ đằm thắm, và thương yêu. Trong những dịp lễ Tết, chiếc áo dài lại thêm một lần nữa thấp thoáng trên các ngã tư đường phố, cùng hoa va cảnh sắc của trời mới đất mới, khoe sắc ngày Tết. Áo dài giũa phố đông chật chội người và xe, ấm ào náo động, làm dịu lại cảnh sắc và làm mát lại những hồn người, làm cho ai đó phải quay lại ngắm nhìn dù chỉ một lần, dịu đi cái khó chịu và u uất vốn có trong bản tính mỗi con người bân rộn.

Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn lên nét đẹp của mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật rộng trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ đến trên vòng eo khiến cho người mặc có cảm giác thoải mái, lại tạo dáng thướt tha tôn lên vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bằng vài lụa mềm lại cũng vừa khiêu gợi vì nó làm lộ ra sống eo. Chính vì thế, chiếc áo dài mang tính cá nhân hóa rất cao, mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người và chỉ dành cho ngươi ấy, không thể là một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo rất kĩ, khi may xong phải thử và chỉnh sửa lại thêm vài lần nữa thì mới hoàn thiện được.

Thực vậy, trong các hội nghị quốc tế, ở hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nữ học giả Mỹ đã vận một chiếc áo dài, và mở đầu bài phát biểu của mình bằng một câu tiếng Việt: “Xin chào các bạn”, cả hội trường Ba Đỉnh trang trọng khi đó bỗng tràn ngập một không khí thân thương trìu mến. Trong hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 ở Việt Nam, áo dài đã được vinh dự là trang phục chính cho các vị lãnh đạo nguyên thủ quốc gia của các nước mặc trong buổi lễ bế mạc kết thúc hội nghị. Áo dài, như vậy có thể là đại sứ tinh thần của văn hóa Việt, mang nước Việt Nam cùng hòa chung vào dòng kinh tế năng động và nhiệt huyết trên thương trường thế giới, là một nét riêng của người phụ nữ Việt nói riêng và cả dân tộc Việt nói chung.

Áo dài là hiện thân của dân tộc Việt, một vẻ đẹp mĩ miều nhưng đằm thắm, là một phần tất yếu trong mỗi phụ nữ Việt, là đặc trưng cho một quốc gia có người phụ nữ chịu thương chịu khó, luôn hy sinh, đứng phía sau để cổ động tinh thần cho nước nhà, cùng nhau hòa nhịp và phát triển. Trải qua từng thời kì, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quà trình lịch sử Việt Nam, tà áo dài Việt Nam luôn tồn tại theo dòng thời gian, vẫn mãi sẽ là tâm hồn Việt, văn hóa Việt, là tinh thần Việt và là trang phục truyền thống mang đậm tính lịch sử lâu đời của nước Việt ngàn năm văn hiến.

Kín đáo, duyên dáng và gợi cảm là một trong những yếu tố đưa áo dài trở thành niềm kiêu hãnh của người Việt. Không chỉ là cái áo nữa - chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của trang phục phụ nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hoá vật thể truyền thống không thể thiếu cho vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt.

Thuyết minh về chiếc áo dài
Mạng Giáo dục (tổng hợp)

Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017

Các loại hình du lịch

Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ thuộc tiêu chí đưa ra. Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây.

Phân chia theo môi trường tài nguyên

  • Du lịch thiên nhiên
  • Du lịch văn hoá

Phân loại theo mục đích chuyến đi

  • Du lịch tham quan
  • Du lịch giải trí
  • Du lịch nghỉ dưỡng
  • Du lịch khám phá
  • Du lịch thể thao
  • Du lịch lễ hội
  • Du lịch tôn giáo
  • Du lịch nghiên cứu (học tập)
  • Du lịch hội nghị
  • Du lịch thể thao kết hợp
  • Du lịch chữa bệnh
  • Du lịch thăm thân
  • Du lịch kinh doanh

Phân loại theo lãnh thổ hoạt động

  • Du lịch quốc tế
  • Du lịch nội địa
  • Du lịch quốc gia

Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch

  • Du lịch miền biển
  • Du lịch núi
  • Du lịch đô thị
  • Du lịch thôn quê

Phân loại theo phương tiện giao thông

  • Du lịch xe đạp
  • Du lịch ô tô
  • Du lịch bằng tàu hoả
  • Du lịch bằng tàu thuỷ
  • Du lịch máy bay

Phân loại theo loại hình lưu trú

  • Khách sạn
  • Nhà trọ thanh niên
  • Camping
  • Bungaloue
  • Làng du lịch

Phân loại theo lứa tuổi du lịch

  • Du lịch thiếu niên
  • Du lịch thanh niên
  • Du lịch trung niên
  • Du lịch người cao tuổi

Phân loại theo độ dài chuyến đi

  • Du lịch ngắn ngày
  • Du lịch dài ngày

Phân loại theo hình thức tổ chức

  • Du lịch tập thể
  • Du lịch cá thể
  • Du lịch gia đình

Phân loại theo phương thưc hợp đồng

  • Du lịch trọn gói
  • Du lịch từng phần

Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2017

Các loại rủi ro cơ bản của Ngân hàng thương mại

Các loại rủi ro cơ bản của Ngân hàng thương mại 

Rủi ro rất đa dạng, có thể phân tích theo nhiều khía cạnh khác nhau, đồng thời các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, rủi ro này có thể là nguyên nhân dẫn đến rủi ro khác. Trong phạm vi luận án này chỉ đề cập đến một số loại rủi ro cơ bản mà một NH hiện đại thường gặp phải và mối quan hệ giữa một số loại rủi ro với nhau.
a/ Rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM, đem lại lợi nhuận lớn nhất nhưng cũng là loại rủi ro lớn nhất của NHTM. Rủi ro tín dụng được đề cập ở đây là rủi ro trong hoạt động cho vay, cấp tín dụng của NHTM. Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận[62].Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa NH với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện.
Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN nêu rõ: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [29].
Để thống nhất cách nhận thức và phân tích xuyên suốt trong toàn bộ nội dung luận án, nghiên cứu sinh đồng tình với khái niệm về rủi ro tín dụng được nêu trong văn bản pháp quy nói trên của NHNN. Khái niệm này đã được trao đổi, thảo luận của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách,...trong quá trình ban hành văn bản pháp quy này. Cụ thể như sau: Rủi ro tín dụng: là những khoản tổn thất phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
b/ Rủi ro lãi suất
 Là những thiệt hại mà NHTM phải gánh chịu khi có sự thay đổi lãi suất trên thị trường. Nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ với những kỳ hạn không cân xứng với nhau thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản Có hoặc khi giá trị của tài sản thay đổi do lãi suất thị trường biến động. Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn thể hiện khi tỷ lệ lạm phát tăng nhanh hơn lạm phát dự kiến trong khi lãi suất cho vay không thể điều chỉnh được, thì ngân hàng có thể phải chịu rủi ro nếu tỷ lệ lạm phát lớn hơn hoặc bằng lãi suất cho vay (lãi suất thực tế âm).
c/ Rủi ro ngoại hối
 Theo Peter S. Rose (2001) “Là những thiệt hại mà NHTM phải gánh chịu do sự biến động của giá cả tiền tệ trên thị trường thế giới” [41]. Rủi ro ngoại hối xảy ra do tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ không cân xứng với nhau cả về số lượng và kỳ hạn. Rủi ro ngoại hối có mối quan hệ với rủi ro tín dụng thể hiện như: Khi tỷ giá hối đoái biến động mạnh có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm một loại ngoại tệ nào đó và để chi trả cho bên bán, các DN phải mua ngoại tệ với giá cao ngoài dự tính, lợi nhuận kinh doanh giảm, có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay.
d/ Rủi ro nguồn vốn
 Cũng theo Peter S. Rose (2001): “Là những thiệt hại do nguồn vốn huy động của ngân hàng bị ứ đọng không cho vay được, cũng như không thể chuyển sang được các loại tài sản Có sinh lời khác” [41]. Ngân hàng không khai thác hết được tiềm năng sinh lời của tài sản Có, hiệu quả sử dụng vốn giảm, dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh. Nếu tình trạng này kéo dài mà không được khắc phục có thể ngân hàng sẽ phá sản.
đ/ Rủi ro thanh khoản:
Là tình trạng NHTM không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng (nhu cầu thanh khoản)” [41]. Tình trạng này nhỏ thì gây thua lỗ, hoạt động kinh doanh đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán và dẫn đến ngân hàng phá sản.
Rủi ro thanh khoản cũng còn được hiểu “Là một rủi ro trong lĩnh vực tài chính. Rủi ro này xảy ra khi NHTM thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay” [41]. Thiếu ngân quỹ ở đây có thể được hiểu theo 2 cách: thiếu dự trữ tại ngân hàng, hoặc là không thể huy động được nguồn vốn ngay lập tức. Để tránh được rủi ro thanh khoản, các NHTM phải tính toán được hệ số thanh khoản của mình, tức là tính được khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngay của các tài sản Nợ.
e/ Rủi ro hoạt động:
 Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “Rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất cho ngân hàng do nguyên nhân con người, sự không đầy đủ hay vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên ngoài” [63]. Rủi ro hoạt động là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra do hoạt động kém hiệu quả, ví dụ như hệ thống thông tin không đầy đủ, hoạt động có vấn đề, có vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian lận hay những thảm họa không lường trước được.
f/ Mối quan hệ giữa các loại rủi ro

Giữa các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và 5 loại rủi ro cơ bản được đề cập ở trên nói riêng có mối quan hệ mật thiết với nhau, rủi ro này là nguyên nhân của rủi ro kia. Trong hoạt động tín dụng, để xẩy ra rủi ro với tỷ lệ nợ xấu cao, khả năng thu hồi nợ thấp sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản. Khi NHTM để xẩy ra rủi ro thanh khoản, phải đi vay vốn trên thị trường, phải huy động vốn với lãi suất cao hơn, lại gây ra rủi ro nguồn vốn và rủi ro lãi suất. Rủi ro trong hoạt động bởi nguyên nhân con người, sự không đầy đủ hay vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên ngoài lại gây ro rủi ro tín dụng và rủi ro ngoại hối,…

Các loại rủi ro cơ bản của Ngân hàng thương mại 

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Định hướng và một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động Nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo

Định hướng và một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động Nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo

Định hướng, hoạt động Nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp rất đa dạng, nhưng cần tập trung chủ yếu vào các đối tượng sau:

Nghiên cứu và phát triển sản phẩm: Nghiên cứu để tạo ra các sản phẩm mới mà thị trường có nhu cầu hoặc là thị trường tiềm năng trong tương lai phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp, trong dod ưu tiên cho sản phẩm xuất khẩu; hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa các công dụng của sản phẩm, cải tiến mẫu mã… đáp ứng theo nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng và thị trường, đủ sức cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu theo quy định của WTO và khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), cũng như đủ sức cạnh tranh trên thị trường nước ngoài.
Nghiên cứu và phát triển công nghệ: Bao gồm việc nghiên cứu làm chủ công nghệ, cải tiến công nghệ hoặc tạo ra cong nghệ mới đáp ứng yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hoặc công nghệ sản xuất ra sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu thị trường. Nhiều nghiên cứu công nghệ còn bao gồm nghiên cứu để “giải mã công nghệ”, tìm hiểu bí quyết công nghệ (know-how), làm chủ công nghệ nhập.
Việc nghiên cứu và phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm, ngoài việc hướng vào những công nghệ và loại sản phẩm hiện đang phát triển, thì phải hướng vào những công nghệ và sản phẩm có lợi thế so sánh, có thị trường tiềm năng trong tương lai (vì với sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN thì tốc độ đổi mới công nghệ diễn ra rất nhanh chóng, vòng đời của công nghệ và sản phẩm ngày càng bị rút ngắn, đặc biệt là trong lĩnh vực điện tử-viễn thông, CNTT và các clinhx vực công nghệ khác).
Nghiên cứu và phát triển về tổ chức sản xuất kinh doanh: Nghiên cứu cải tiến và bố trí hợp lý các quy trình sản xuất, các công đoạn sản xuất, tổ chức sản xuất nhằm nâng cao năng suất, kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất. Nghiên cứu này còn bao gồm cả hoạt động kho vận (logistic) và các quy trình phục vụ và dịch vụ của doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu đổi mới tổ chức sản xuất kinh doanh cần gắn với việc nghiên cứu áp dụng các hệ thống quản lý, các giải pháp tiên tiến và công cụ cải tiến năng suất chất lượng (như ISO, TQM,LeanSixSigma…).

Một số hoạt động đẩy mạnh Nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo

Một là, thành lập mới hoặc củng cố, đầu tư phát triển các tổ chức Nghiên cứu phát triển đã có trong doanh nghiệp như: Viện, trung tâm, phòng R&D, phòng thí nghiệm, trạm thực nghiệm… và đăng ký hoạt động KH&CN với cơ quan chức năng của Nhà nước (Bộ KH&CN, Sở KH&CN các tỉnh, thành phố). Củng cố bộ máy tổ chức, nhân lực, tăng cường đầu tư trang thiết bị và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Nghiên cứu phát triển hiện có của doanh nghiệp theo hướng thiết thực và hiệu quả.
Hai là, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch Nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ theo chiến lược và các mục tiêu phát triển doanh nghiệp. Trên cơ sở chiến lược phát triển doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh, chiến lược sản phẩm và các mục tiêu trước mắt và lâu dài đặt ra của doanh nghiệp, mà tổ chức Nghiên cứu phát triển của doanh nghiệp phải phối hợp cùng với các bộ phận có liên quan trong doanh nghiệp, như: Kế hoạch, kinh doanh, marketing… để đề xuất xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch R&D, kế hoạch đổi mới công nghệ trước mắt cũng như trong dài hạn, tập trung vào những lĩnh vực sản xuất chủ lực và những lĩnh vực có lợi thế so sánh của doanh nghiệp.


Tình hình hoạt động Nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp ở Việt Nam

Đầu tư vào Nghiên cứu phát triển của các công ty nước ngoài tại Việt Nam


Một xu hướng mới của đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây ở Việt nam là đầu tư vào Nghiên cứu phát triển, như Công ty điện tử Samsung Việt nam (thuộc tập đoàn Samsung) đã hợp tác với Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (HUT) thành lập Phòng thí nghiệm Samsung-HUT (tháng 5.2010) và hướng tới sẽ thành lập Trung tâm R&D của Samsung tại Việt Nam; Tập đoàn Hewlett Packard-HP (Mỹ) có dự án Trung tâm R&D tại Công viên phần mềm Quang Trung (TP. Hồ Chí Minh); Hãng Nokia (Phần Lan) mới đây cũng đã tuyên bố sẽ dành một tỷ lệ nhất định trong tổng vốn đầu tư vào Việt Nam cho Nghiên cứu phát triển…

Tổ chức và hoạt động Nghiên cứu phát triển trong các doanh nghiệp Việt Nam


Hiện nay, nhiều taaopj đoàn, Tổng công ty của Nhà nước đã thành lập mới hoặc sắp xếp lại các viện nghiên cứu, trung tâm Nghiên cứu phát triển, phòng thí nghiệm trong doanh nghiệp, như: Viện Nghiên cứu Dầu khí (Tập đoàn Dầu khí Việt Nam), Viện Nghiên cứu Cao su (Tập đoàn Cao su Việt Nam), Học viện Bưu chính -Viễn thông (Tập đoàn BC-VT), Vinaconex R&D (Tổng CTCP Xây dựng Vinaconex), Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển SPT (CTCP dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn), Viện Nghiên cứu và Phát triển Vietttel (Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel), Viện Nghiên cứu Công nghệ FPT (Tập đoàn FPT)…

Bên cạnh đó, các khu công nghệ cao, khu công nghệ phần mềm đều thành lập các trung tâm R&D, như: Khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội), Công viên phần mềm Quang Trung, Khu công nghiệp công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh…

Ngoài ra, các tổ chức R&D ở khu vực kinh tế tư nhân cũng đã có bước phát triển. Điển hình là việc ra đời các tổ chức R&D trong doanh nghiệp, như: Viện Nghiên cứu Thủy sản (Công ty Thủy sản Bình An, TP. Cần Thơ); các phòng R&D của Công ty KIMDAN, VISSAN; các trung tâm R&D, phòng R&D, phòng thí nghiệm trong rất nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp CNTT, dược phẩm, thực phẩm, cơ khí chế tạo, ngành nhựa, chế biến gỗ xuất khẩu… trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Long An…

Với việc đầu tư có hiệu quả cho hoạt động Nghiên cứu phát triển, nhiều kết quả nghiên cứu đã được đưa vào ứng dụng, giúp cho các doanh nghiệp làm chủ công nghệ nhập, cải tiến công nghệ, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới… đem lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Điển hình như: Viettel đã nghiên cứu thiết kế và chế tạo thành công máy điện thoại cố định không dây Homephone HP6800, máy điện thoại chuyên dụng dành cho ngư dân đánh bắt cá xa bờ Seaphone 6810, thiết kế và sản xuất thử nghiệm thành công 100 mẫu thiết bị USB 3G Modem mang thương hiệu Viettel; Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang đã tập trung nghiên cứu và chế tạo đền Compac Điện Quang, với chất lượng tương đương với đèn ngoại nhập nhưng giá cả lại rẻ hơn và đặc biệt là tuổi thọ cao hơn; Công ty F-SOFT (thuộc Tập đoàn FPT) và Công ty cổ phần Đồng Tâm (DongTam Group) được sự giúp đỡ của Bộ KH&CN đã thực hiện đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc áp dụng các giải pháp tiên tiến và công cụ cải tiến năng suất chất lượng”. Sau 2 năm thực hiện (2009-2010), quá trình sản xuất kinh doanh và chất lượng nhân lực cũng như trình độ quản trị của 2 doanh nghiệp đã được nâng lên một cách rõ rệt.

Những tồn tại và hạn chế trong hoạt động Nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp


Doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN nói chung và hoạt động Nghiên cứu phát triển nói riêng còn rất thấp: Trong nhiều năm qua, tổng kinh phí đầu tư cho KH&CN nói chung khoảng 0,6 % GDP, trong đó 0,5 là của Nhà nước và 0,1% là của khu vực ngoài nhà nước. Mức đầu tư cho hoạt động R&D của doanh nghiệp lại càng thấp hơn. Nếu tính tổng vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ thì tỷ lệ đó của các doanh nghiệp Việt Nam vào khoảng 0,2-0,5 doanh thu, trong đó đầu tư cho R&D chỉ khoảng 0,01% doanh thu.Tuyệt đại đa số các doanh nghiệp chưa có tổ chức R&D, chưa quan tâm và chưa chủ động trong hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm, dịch vụ và các hoạt động đổi mới sáng tạo để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Sự thiếu hụt nguồ nhân lực chất lượng cao là một vấn đề nan giải trong quá trình phát triển của doanh nghiệp: Nhân lực KH&CN trong các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm 7,25% lực lượng lao động. Với việc mở cửa thị trường và hội nhập thì bản thân các doanh nghiệp phải nỗ  lực trong hoạt động R&D và quan tâm nhiều hơn tới phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Chỉ bằng cách đó, các doanh nghiệp mới có đủ điều kiện tham gia vào mạng lưới sản xuất khu vực, toàn cầu và đủ sức cạnh tranh khi ra “biển lớn”.

Việc thương mại hóa các sản phẩm Nghiên cứu phát triển còn rất yếu: các sáng chế công nghệ trong nước được đăng ký bản quyền tại Cục Sở hữu trí tuệ (thuộc Bộ KH&CN) hàng năm có tăng, nhưng còn rất ít ỏi. Năm 2010, có hơn 3.200 đơn đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ, trong đó số đơn đăng ký của các tác giả trong nước chỉ chiếm dưới 10%, còn hơn 90% là của người nước ngoài (chủ yếu là Hoa Kỳ và Nhật Bản), hầu như công nghệ và thiết bị của các nhà sáng chế trong nước chỉ có giá trị nội địa.

Công nghệ sản xuất phần lớn còn lạc hậu: Hiện nay, đa số các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giwois từ 2 đến 3 thế hệ. Máy móc, thiết bị đang được sử dụng ở các doanh nghiệp Việt Nam chỉ có 10% hiện đại, 38% trung bình, 52% lạc hậu và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có 2% (tỷ lệ này ở Thái Lan là 31%, Malaixia là 51% và Singapore là 73%). Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ta đầu tư cho đổi mới công nghệ rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,2-0,3% tổng doanh thu.

Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp: Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Report) của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 2010-2011, Việt Nam đạt điểm số năng lực cạnh tranh (GCL) 4,3 điểm, tăng só với mức 4,0 điểm trong Báo cáo 2009-2010 và đã lên vị trí thứ 59 trong tổng số 139 nền kinh tế được xếp hạng năm 2010 (năm 2009 ở vị trí 75/133). Tuy thang hạng so với năm 2009, nhưng năng lực cạnh tranh của Việt Nam theo WEF vẫn thấp hơn so với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á như Singapore (hạng 3), Malaixia (26), Brunei (28), Thái Lan (38), Inđônêxia (44).

Theo bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, thù hiện nay hầu như các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ chú trọng đến khâu sản xuất và định giá sản phẩm mà chưa tập trung vào các khâu tạo nên giá trị gia tăng như R&D, xúc tiến tiếp thị (P&M). Trong khi đó, ở các quốc gia phát triển, đối với R&D, nếu được phát huy tốt, có thể tạo ra tới 30-35% giá trị gia tăng cho hàng hóa, dịch vụ và P&M cũng có thể tạo ra 20-25% giá trị gia tăng cho hàng hóa, dịch vụ. Vì thế, nếu không đầu tư cho R&D doanh nghiệp Việt Nam khó có thể tham gia vào chuỗi giá trị gia tăng của sản phẩm toàn cầu.