Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và một số mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn

Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và một số mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn

Phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện vẫn được coi là vấn đề then chốt, quyết định sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nói riêng của nhiều quốc gia. Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, sự đóng góp của nông nghiệp, nông thôn vào sự phát triển chung của quốc dân càng to lớn. Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường.

Vai trò cơ bản của nông nghiệp, nông thôn thể hiện dưới đây:

Nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, nó tạo nên sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Đồng thời, nông nghiệp cũng là ngành cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác. Nông nghiệp giúp phát triển thị trường nội địa, việc tiêu dùng của người nông dân và mạng dân cư nông thôn đối với hàng hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng (vải, đồ gỗ, dụng cụ gia đình, vật liệu xây dựng), hàng hóa tư liệu sản xuất (phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, trang thiết bị, máy móc) là tiêu biểu cho sự đóng góp về mặt thị trường của ngành nông nghiệp đối với quá trình phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, nông nghiệp còn mang lại nguồn ngoại tệ và nguồn nhân lực cho nền kinh tế. Thông qua nguồn thu từ thuế đất nông nghiệp, thuế xuất khẩu nông sản, nhập khẩu tư liệu sản xuất nông nghiệp, Nhà nước sẽ thu được một nguồn ngân sách lớn, dùng đầu tư cho phát triển kinh tế.

Xem thêm : Vai trò của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội; là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của khu vực thành thị hiện đại. Nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng, biển nên sự phát triển bền vững nông thôn có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khu vực nông thôn đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước. Vai trò của phát triển nông thôn còn thể hiện trong việc gìn giữ và tô điểm cho môi trường sinh thái của con người, tạo sự gắn bó hài hòa giữa con người với thiên nhiên và hình thành những nơi nghỉ ngơi trong lành, giải trí phong phú, vùng du lịch sinh thái đa dạng và thanh bình, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho con người.

Để có thể phát triển nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện và bền vững, Việt Nam cần phải xây dựng một mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mình. Thực tiễn kinh nghiệm các quốc gia cho thấy các mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn được áp dụng chủ yếu trên thế giới thành công hay thất bại phụ thuộc nhiều vào quan điểm và chính sách của Nhà nước đối với quá trình này. Đối với các nước đang trong quá trình CNH, phát triển của khu vực nông nghiệp nông thôn đang được coi là chìa khoá cho phát triển bền vững, song ở nhiều nơi việc thiếu hụt các nguồn lực cũng như nhận thức chưa đầy đủ về vai trò quan trọng này đã khiến quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn diễn ra hết sức đa dạng ở những quốc gia có đặc điểm và lộ trình phát triển không giống nhau, song xét về bản chất có thể thấy tập trung vào ba mô hình chủ đạo sau đây:

Một là, mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn ngoại sinh, diễn ra ở những nền kinh tế có cơ sở công nghiệp phát triển mạnh mẽ giúp thu hút một lực lượng lao động lớn khỏi nông nghiệp - nông thôn, đến một mức độ phát triển nhất định có xu hướng chuyển dịch công nghiệp về nông thôn và lấy HĐH nông nghiệp - nông thôn làm xung lực mới cho quá trình công nghiệp hóa. Mô hình này phổ biến đối với các nước phát triển, là sản phẩm của thời kỳ “hậu công nghiệp”.

Hai là, mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, phát triển nông thôn nội sinh, diễn ra ở những nền kinh tế có cơ sở công nghiệp còn lạc hậu, không đủ sức thu hút lực lượng lao động lớn từ nông nghiệp - nông thôn, buộc khu vực nông nghiệp - nông thôn phải thực hiện tự hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu sang các ngành công nghiệp và dịch vụ để giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn. Mô hình này phổ biến đối với các nước đang phát triển, không phải là sự nối dài của công nghiệp thành thị mà có thể trở thành lực lượng bổ sung hoặc thậm chí cạnh tranh với công nghiệp thành thị trong quá trình công nghiệp hóa.

Ba là, mô hình CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn hỗn hợp, là sự kết hợp của hai mô hình nêu trên. Mô hình này được áp dụng ở nhiều quốc gia mới CNH hoặc mới nổi, trong đó cơ sở công nghiệp cũng đã có những tích lũy nhất định song lực lượng lao động ở khu vực nông nghiệp - nông thôn vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, quá trình chuyển dịch công nghiệp từ thành thị tới nông thôn diễn ra song song với HĐH nông nghiệp - nông thôn, kết cấu nhị nguyên trong kinh tế này khi được vận dụng phù hợp đã đưa tới sự thành công nhanh chóng của nhiều nền kinh tế trong quá trình CNH.

Mặc dù mỗi quốc gia hay nền kinh tế có điều kiện đặc thù riêng, song lịch sử phát triển công nghiệp hóa của các quốc gia trên thế giới trải qua vài trăm năm đã chứng tỏ rằng chỉ những quốc gia nào xây dựng được chính sách phát triển trong đó ý thức được tầm quan trọng của khu vực nông nghiệp, phát triển nông thôn và dành cho khu vực này quyết tâm chính trị cao độ mới có thể thành công trong công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng và công nghiệp hóa nền kinh tế nói chung. Ngoài ra, để phát triển nông nghiệp - nông thôn hiệu quả, mỗi nước cần sử dụng tất cả những điều kiện sẵn có, từ kiến thức công nghệ sinh học hiện đại cho tới những kinh nghiệm cổ truyền. Mỗi địa phương, mỗi quốc gia đều có thể lựa chọn để phát triển bền vững nền nông nghiệp của mình.

--------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1.    Đặng Kim Sơn. Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội 2008.
2.    CIEM, Đặc điểm kinh tế nông thôn Việt Nam, Kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm 2010 tại 12 tỉnh.
3.    Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội quốc gia, Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp và nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa.



Trích nguồn:
Tác giả: NCV. Đinh Thu Nga

Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và một số mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2016

Giáo sư Trường ĐH Massey :Phương pháp xây dựng đề cương luận án nghiên cứu tiến sĩ

Giáo sư Trường ĐH Massey :Phương pháp xây dựng đề cương luận án nghiên cứu tiến sĩ

Nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu cho các cán bộ, giảng viên chuẩn bị làm nghiên cứu sinh, Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN tổ chức Hội thảo “Phương pháp xây dựng đề cương luận án nghiên cứu tiến sĩ” vào ngày 8 và 9/4/2010.

Hội thảo đã nhận được sự quan tâm của nhiều cán bộ, giảng viên từ các trường đại học, viện nghiên cứu, các cơ quan Nhà nước là các ứng viên tiềm năng cho Chương trình phối hợp đào tạo tiến sĩ.
Tại hội thảo, GS. Stuart Birks đã chia sẻ với các ứng viên những kinh nghiệm trong việc xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học để làm tiến sĩ tại các trường đại học trên thế giới, cách viết bản đề cương nghiên cứu khoa học và ý tưởng khoa học.
Xem thêm : Gợi ý cách viết đề cương luận án tiến sĩ
Theo GS. Stuart Birks, nội dung nghiên cứu của một đề tài khoa học được phản ánh một cách cô đọng nhất trong tiêu đề/ tên của nó. Vì vậy, việc lựa chọn tên đề tài có ý nghĩa hết sức quan trọng. Giáo sư nhấn mạnh, tên đề tài cần có tính đơn nghĩa, khúc triết, chuyên biệt, không trùng lặp với tên các đề tài đã có, không dẫn đến những hiểu lầm, hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Đề tài phải phù hợp với mã ngành đào tạo; không nên có nội dung nghiên cứu quá rộng; vần đề được nghiên cứu phải có giá trị khoa học và thực tiễn. GS. Stuart Birks khuyên các ứng viên nên đi sâu vào nghiên cứu từ một đến hai vấn đề để kết luận có tính khoa học cao và cần tránh các đề tài có chung nhiều chuyên ngành hay quá đặc thù - đây cũng lỗi mà rất nhiều nghiên cứu sinh mắc phải.
HƯỚNG DẪN NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Một đề cương nghiên cứu luận án tiến sĩ thường gồm 6 phần chính: Đặt vấn đề; Tổng quan tài liệu; Nội dung, địa điểm, vật liệu và phương pháp nghiên cứu; Dự kiến kết quả; tiến độ; Tài liệu tham khảo. Trong đó, tổng quan tài liệu là phần rất quan trọng mà nghiên cứu sinh cần trình bày kỹ, có logic các vấn đề để thể hiện đúng tầm quan trọng của đề tài.
Kết luận cho bài thuyết trình, Giáo sư nhấn mạnh: “Nghiên cứu giống như một quá trình điều tra, vì vậy, đừng hy vọng có thể đoán được kết quả trước khi bắt đầu và kết quả cuối cùng có thể rất khác so với ý tưởng ban đầu”
Không khí của Hội thảo càng trở nên sôi nổi khi các ứng viên tích cực thảo luận, trao đổi với GS. Stuart Birks về cách chọn đề tài nghiên cứu, cách trình bày đề cương nghiên cứu sinh, phương pháp giải quyết các vấn đề cần nghiên cứu và được diễn giả giải đáp chi tiết, nhiệt tình.

Giáo sư Trường ĐH Massey :Phương pháp xây dựng đề cương luận án nghiên cứu tiến sĩ